Đồ án tốt nghiệp: Thiết kế tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu đoạn Km5+100 - Km6+500

Chuyên khảo phân tích Thiết kế tuyến đường phong thổ lai châu đoạn km5 100 km6 500, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Kỹ thuật Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2019

127
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn tổng quan thiết kế đường Phong Thổ Lai Châu km5 km6

Dự án thiết kế tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu đoạn Km5+100 - Km6+500 là một hạng mục quan trọng trong chiến lược phát triển hạ tầng giao thông của tỉnh. Tuyến đường này không chỉ là một phần của dự án đường tỉnh lộ Lai Châu đã được quy hoạch mà còn đóng vai trò huyết mạch, kết nối trung tâm kinh tế - chính trị giữa thị trấn Phong Thổ và thành phố Lai Châu. Việc xây dựng và hoàn thiện đoạn tuyến này sẽ giải quyết những khó khăn hiện hữu về giao thông trong vùng, vốn bị chia cắt bởi địa hình miền núi phức tạp, mật độ dân cư thấp và chất lượng đường sá chưa cao. Hồ sơ thiết kế đường giao thông cho đoạn tuyến này được xây dựng dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo khả năng khai thác an toàn, bền vững và hiệu quả. Mục tiêu của dự án là tạo ra một công trình giao thông hiện đại, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa và củng cố an ninh quốc phòng tại khu vực biên giới phía Tây Bắc. Toàn bộ quá trình từ khảo sát địa hình đến phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công đều được thực hiện một cách khoa học, bài bản, đảm bảo tính khả thi và tối ưu hóa chi phí thiết kế đường cũng như chi phí xây dựng. Báo cáo này sẽ trình bày chi tiết các cơ sở, phương pháp và kết quả trong công tác thiết kế cơ sở tuyến đường, làm tiền đề cho giai đoạn thiết kế kỹ thuật công trình giao thông tiếp theo.

1.1. Sự cần thiết đầu tư xây dựng dự án đường tỉnh lộ Lai Châu

Lai Châu là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng nhưng hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế do địa hình núi cao, chia cắt mạnh. Các tuyến đường hiện hữu, đặc biệt là đường huyện, đường xã, có chất lượng kỹ thuật chưa cao, hệ thống thoát nước thiếu kiên cố, gây khó khăn cho việc đi lại, nhất là trong mùa mưa lũ. Dự án đường tỉnh lộ Lai Châu ra đời nhằm giải quyết những bất cập này. Việc đầu tư xây dựng tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu, cụ thể là đoạn Km5+100 - Km6+500, là cực kỳ cần thiết. Nó không chỉ phục vụ nhu cầu vận tải hàng hóa, hành khách mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo quốc phòng - an ninh. Theo thuyết minh dự án đầu tư xây dựng, tuyến đường mới sẽ rút ngắn thời gian di chuyển, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, đặc biệt là với khu kinh tế cửa khẩu Mù La Thàng.

1.2. Phạm vi và mục tiêu của hồ sơ thiết kế đường giao thông

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc thiết kế kỹ thuật công trình giao thông cho đoạn tuyến dài 1.4km, từ Km5+100 đến Km6+500. Mục tiêu chính là xây dựng một bộ hồ sơ thiết kế đường giao thông hoàn chỉnh, bao gồm các bản vẽ thiết kế thi công, thuyết minh kỹ thuật và dự toán chi phí. Hồ sơ này phải tuân thủ nghiêm ngặt quy chuẩn thiết kế đường bộ, đặc biệt là TCVN 4054:2005, và các tiêu chuẩn thiết kế đường miền núi khác. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: xác định cấp hạng đường phù hợp, thiết kế các yếu tố hình học (bình đồ, trắc dọc, trắc ngang), lựa chọn kết cấu nền mặt đường tối ưu, và thiết kế hệ thống thoát nước hiệu quả để đối phó với điều kiện thủy văn phức tạp của khu vực.

II. Top thách thức khi thiết kế đường miền núi Lai Châu km5 km6

Quá trình thiết kế tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu phải đối mặt với nhiều thách thức đặc thù của vùng núi Tây Bắc. Trở ngại lớn nhất đến từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi cao, thung lũng sâu và hệ thống sông suối dày đặc, đòi hỏi công tác khảo sát địa hìnhkhảo sát địa chất công trình phải được thực hiện cực kỳ chi tiết và cẩn trọng. Cấu trúc địa chất phức tạp, với hơn 90% diện tích có độ dốc trên 25 độ, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở, gây khó khăn cho việc lựa chọn hướng tuyến và đảm bảo ổn định nền đường. Bên cạnh đó, khí hậu Lai Châu chia làm hai mùa rõ rệt, với mùa mưa kéo dài và lượng mưa rất lớn, tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8. Điều này đặt ra yêu cầu cao cho việc thiết kế hệ thống thoát nước sao cho đủ năng lực và bền vững, tránh xói lở và phá hỏng kết cấu công trình. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn thiết kế đường miền núiTCVN 4054:2005 trong điều kiện khó khăn như vậy cũng là một bài toán phức tạp, đòi hỏi nhà thầu tư vấn thiết kế phải có kinh nghiệm và năng lực chuyên môn cao.

2.1. Khó khăn từ công tác khảo sát địa hình và địa chất công trình

Địa hình khu vực dự án có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh, nhiều sông suối và thác ghềnh. Công tác khảo sát địa hình gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển và triển khai máy móc, đòi hỏi độ chính xác cao để lập bình đồ tuyến đường tối ưu. Về địa chất, cấu trúc nền đất không đồng nhất, xen kẽ giữa các vùng đá vôi, cao nguyên và thung lũng. Việc khảo sát địa chất công trình phải xác định rõ các đới yếu, các khu vực có nguy cơ trượt lở để có giải pháp xử lý nền móng và thiết kế mái taluy phù hợp. Các kết quả khảo sát này là dữ liệu đầu vào cốt lõi cho toàn bộ quá trình thiết kế, quyết định đến sự ổn định và an toàn của công trình sau này.

2.2. Yêu cầu tuân thủ quy chuẩn thiết kế đường bộ TCVN 4054 2005

Việc áp dụng quy chuẩn thiết kế đường bộ, cụ thể là tiêu chuẩn TCVN 4054:2005, cho đường cấp III miền núi đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe. Các chỉ tiêu về bán kính đường cong nằm, độ dốc dọc tối đa, tầm nhìn và chiều dài đoạn chêm phải được tính toán và bố trí hợp lý để đảm bảo an toàn giao thông khi vận hành. Ví dụ, với tốc độ thiết kế 60 km/h, bán kính tối thiểu của đường cong đứng lồi là 2500m và lõm là 1500m. Việc cân bằng giữa các yếu tố kỹ thuật này với điều kiện địa hình phức tạp để giảm thiểu khối lượng đào đắp là một thách thức lớn, đòi hỏi các kỹ sư phải có giải pháp thiết kế linh hoạt và sáng tạo.

III. Phương pháp thiết kế yếu tố hình học đường Phong Thổ Lai Châu

Giải pháp cốt lõi cho thiết kế tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu đoạn Km5+100 - Km6+500 là tối ưu hóa các yếu tố hình học để thích ứng với địa hình miền núi. Quá trình này bắt đầu bằng việc lập bình đồ tuyến đường, trong đó hướng tuyến được vạch men theo sườn núi và các thung lũng để giảm thiểu khối lượng đào đắp và tránh các khu vực địa chất không ổn định. Dựa trên bình đồ, trắc dọc, trắc ngang được thiết kế chi tiết. Đường đỏ được vạch bám sát địa hình tự nhiên, tuân thủ độ dốc dọc tối đa cho phép là 7% theo TCVN 4054:2005. Các đường cong đứng (lồi và lõm) được bố trí để đảm bảo xe chạy êm thuận và đủ tầm nhìn. Một phần quan trọng khác là thiết kế hệ thống thoát nước. Do lượng mưa lớn, hệ thống rãnh dọc hình thang và các cống tròn bê tông cốt thép được tính toán thủy lực cẩn thận. Khẩu độ cống được xác định dựa trên lưu lượng đỉnh lũ với tần suất thiết kế 4%, đảm bảo khả năng thoát nước hiệu quả, bảo vệ nền đường khỏi xói mòn và sạt lở, góp phần tăng tuổi thọ và đảm bảo an toàn giao thông cho toàn tuyến.

3.1. Thiết kế bình đồ tuyến đường trắc dọc và trắc ngang

Công tác thiết kế bình đồ tuyến đường được thực hiện dựa trên nguyên tắc bám theo đường đồng mức, tránh các điểm khống chế như khu dân cư và các vùng địa chất yếu. Các đường cong nằm được thiết kế với bán kính tối thiểu là 125m, có bố trí siêu cao và mở rộng phần xe chạy để đảm bảo an toàn. Thiết kế trắc dọc, trắc ngang là bước tiếp theo, nhằm xác định cao độ của tim đường (đường đỏ) so với mặt đất tự nhiên. Việc thiết kế đường đỏ tối ưu giúp cân bằng khối lượng đào đắp, giảm chi phí xây dựng. Mặt cắt ngang điển hình được thiết kế với bề rộng nền đường 9m, bao gồm 2 làn xe, lề gia cố và lề đất, đáp ứng tiêu chuẩn đường cấp III miền núi.

3.2. Tính toán và bố trí siêu cao độ mở rộng trong đường cong

Để chống lại lực ly tâm khi xe chạy trong đường cong, việc tính toán và bố trí siêu cao là bắt buộc. Độ dốc siêu cao được xác định dựa trên tốc độ thiết kế (60 km/h) và bán kính đường cong, với giá trị tối đa là 7%. Song song đó, độ mở rộng mặt đường trong đường cong cũng được tính toán để đảm bảo quỹ đạo di chuyển của các loại xe, đặc biệt là xe tải nặng. Các yếu tố này được thể hiện rõ trong bản vẽ thiết kế thi công, đảm bảo các phương tiện lưu thông an toàn ở tốc độ cho phép, giảm thiểu nguy cơ tai nạn, đặc biệt trên các đoạn cua gấp đặc trưng của đường miền núi.

3.3. Giải pháp thiết kế hệ thống thoát nước cho công trình

Hệ thống thoát nước là hạng mục sống còn của một công trình đường bộ miền núi. Thiết kế hệ thống thoát nước cho đoạn tuyến này bao gồm rãnh dọc và cống ngang. Rãnh dọc hình thang được bố trí ở các đoạn nền đào và nền đắp thấp để thu nước mặt. Cống tròn bê tông cốt thép được đặt tại các vị trí cắt qua khe tụ thủy hoặc suối nhỏ. Khẩu độ cống được tính toán thủy lực dựa trên lưu lượng lũ thiết kế P=4%. Việc bố trí hợp lý các công trình thoát nước không chỉ ngăn ngừa xói lở nền đường mà còn đảm bảo sự ổn định lâu dài cho toàn bộ công trình, giảm thiểu chi phí bảo trì sau này.

IV. Bí quyết lựa chọn kết cấu áo đường tối ưu cho Lai Châu

Việc lựa chọn và thiết kế nền mặt đường (kết cấu áo đường) là yếu tố quyết định đến độ bền và chất lượng khai thác của tuyến đường. Đối với điều kiện khí hậu và địa chất tại Lai Châu, phương án kết cấu áo đường mềm được đề xuất là giải pháp tối ưu nhất. Phương án này vừa đảm bảo các yêu cầu về cường độ, vừa linh hoạt trong thi công và có thể tận dụng vật liệu địa phương, giúp tối ưu hóa chi phí thiết kế đường. Kết cấu được đề xuất bao gồm nhiều lớp, được thiết kế theo tiêu chuẩn 22 TCN 211-06. Lớp trên cùng là bê tông nhựa chặt để tạo độ bằng phẳng, chống thấm và chịu mài mòn trực tiếp từ bánh xe. Các lớp móng bên dưới sử dụng vật liệu cấp phối đá dăm loại I và loại II, có chức năng phân tán áp lực từ tải trọng xe xuống nền đất. Bề dày của từng lớp được tính toán cẩn thận dựa trên môđun đàn hồi yêu cầu, đảm bảo kết cấu đủ khả năng chịu lực trong suốt thời hạn thiết kế. Việc lựa chọn phương án này được xem là một phần quan trọng trong hồ sơ thiết kế đường giao thông, được Ban quản lý dự án Lai Châu xem xét kỹ lưỡng trước khi tiến hành các bước tiếp theo.

4.1. Phân tích và đề xuất phương án thiết kế nền mặt đường

Dựa trên phân tích về lưu lượng xe dự báo, điều kiện tự nhiên và nguồn vật liệu tại chỗ, phương án kết cấu áo đường mềm được lựa chọn. Cấu tạo chi tiết từ trên xuống bao gồm: Lớp bê tông nhựa hạt nhỏ dày 4cm, lớp bê tông nhựa hạt trung dày 6cm, lớp móng trên bằng cấp phối đá dăm loại I dày 15cm, và lớp móng dưới bằng cấp phối đá dăm loại II dày 31cm. Cấu trúc đa lớp này giúp phân bố ứng suất hiệu quả, tăng khả năng chịu tải và chống biến dạng của mặt đường, phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế đường miền núi.

4.2. Yêu cầu kỹ thuật đối với tầng mặt và tầng móng

Tầng mặt, là lớp chịu tác động trực tiếp, phải đảm bảo độ bằng phẳng, độ nhám và khả năng chống thấm tốt. Vật liệu bê tông nhựa được chọn vì đáp ứng tốt các yêu cầu này. Tầng móng đóng vai trò là lớp chịu lực chính, truyền và phân tán tải trọng xuống nền đất. Vật liệu cấp phối đá dăm được sử dụng vì có cường độ cao, dễ thi công và giá thành hợp lý. Toàn bộ thiết kế nền mặt đường phải đảm bảo cường độ chung của kết cấu, hạn chế lún và nứt nẻ trong quá trình khai thác.

V. Ứng dụng bản vẽ thiết kế thi công và đảm bảo an toàn

Giai đoạn thi công là quá trình hiện thực hóa các giải pháp kỹ thuật từ hồ sơ thiết kế đường giao thông. Việc triển khai xây dựng đoạn Km5+100 - Km6+500 đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt bản vẽ thiết kế thi công đã được phê duyệt. Công tác chuẩn bị mặt bằng, định vị tim tuyến và cọc mốc được thực hiện đầu tiên. Tiếp theo là thi công nền đường, bao gồm công tác đào, đắp đất đá và lu lèn để đạt độ chặt yêu cầu. Việc xây dựng các công trình thoát nước như cống và rãnh dọc được tiến hành song song. Sau khi hoàn thành nền đường, các lớp kết cấu áo đường được thi công tuần tự từ dưới lên, từ cấp phối đá dăm đến các lớp bê tông nhựa. Trong suốt quá trình, công tác đảm bảo an toàn giao thông và an toàn lao động là ưu tiên hàng đầu. Các biển báo, rào chắn được bố trí đầy đủ. Sau khi hoàn thiện mặt đường, các hạng mục cuối cùng như sơn vạch kẻ đường, lắp đặt cọc tiêu, biển báo được thực hiện để hoàn chỉnh công trình và đưa vào khai thác an toàn, hiệu quả.

5.1. Trình tự kỹ thuật thi công cống và nền đường

Công tác thi công nền đường là phần việc chiếm khối lượng lớn nhất. Kỹ thuật thi công bao gồm việc bóc bỏ lớp đất hữu cơ, đào nền ở những đoạn cắt qua đồi và đắp nền ở các khu vực thung lũng. Đất đắp được đầm nén theo từng lớp để đảm bảo độ chặt K95, K98 theo quy định. Thi công cống thoát nước đòi hỏi độ chính xác cao về cao độ và vị trí, đảm bảo khả năng thoát nước theo đúng thiết kế thủy lực. Bản vẽ thiết kế thi công chi tiết hóa từng công đoạn, làm cơ sở để nhà thầu triển khai và giám sát chất lượng.

5.2. Biện pháp thi công kết cấu áo đường và hoàn thiện

Thi công kết cấu áo đường là giai đoạn quyết định chất lượng mặt đường. Các lớp cấp phối đá dăm được rải và lu lèn đến khi đạt mô đun đàn hồi yêu cầu. Hai lớp bê tông nhựa được thi công bằng máy rải chuyên dụng, đảm bảo nhiệt độ và độ dày đồng đều. Công tác hoàn thiện bao gồm việc lắp đặt hệ thống an toàn giao thông như biển báo, cọc tiêu, cọc km và sơn kẻ vạch phân làn. Trồng cỏ mái taluy cũng là một bước quan trọng để chống xói mòn và tạo cảnh quan cho tuyến đường.

VI. Kết luận và định hướng phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công

Đồ án thiết kế tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu đoạn Km5+100 - Km6+500 đã giải quyết thành công các bài toán kỹ thuật phức tạp, từ việc lựa chọn hướng tuyến tối ưu trên địa hình miền núi đến việc thiết kế kết cấu nền mặt đường bền vững và hệ thống thoát nước hiệu quả. Hồ sơ thiết kế đã tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn thiết kế đường bộ hiện hành, đặc biệt là TCVN 4054:2005, đảm bảo công trình sau khi xây dựng sẽ đáp ứng tốt yêu cầu về khả năng khai thác và an toàn giao thông. Dự án hoàn thành sẽ mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, là mắt xích quan trọng kết nối các khu vực, thúc đẩy phát triển và cải thiện đời sống người dân. Bước tiếp theo, hồ sơ thiết kế đường giao thông này sẽ được trình lên các cấp có thẩm quyền và Ban quản lý dự án Lai Châu để thẩm định. Quá trình phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công sẽ là cơ sở pháp lý cuối cùng để dự án có thể chuyển sang giai đoạn lựa chọn nhà thầu và triển khai xây dựng, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh Lai Châu.

6.1. Tổng kết các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản của tuyến thiết kế

Đoạn tuyến được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cấp III miền núi, tốc độ thiết kế 60 km/h. Bề rộng nền đường là 9m với 2 làn xe. Các chỉ tiêu hình học như bán kính cong, độ dốc dọc, tầm nhìn đều đã được tính toán và kiểm tra theo TCVN 4054:2005. Kết cấu áo đường mềm được lựa chọn với các lớp vật liệu phù hợp, đảm bảo cường độ và tuổi thọ công trình. Hệ thống thoát nước được thiết kế để chống chịu với điều kiện mưa lũ khắc nghiệt của khu vực. Những kết quả này khẳng định tính đúng đắn và khả thi của phương án thiết kế.

6.2. Ý nghĩa kinh tế xã hội và vai trò của Ban quản lý dự án Lai Châu

Khi hoàn thành, tuyến đường sẽ tạo ra một hành lang giao thông thông suốt, an toàn, rút ngắn khoảng cách và thời gian đi lại giữa Phong Thổ và thành phố Lai Châu. Điều này sẽ thúc đẩy lưu thông hàng hóa, phát triển du lịch và dịch vụ, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Ban quản lý dự án Lai Châu đóng vai trò then chốt trong việc chỉ đạo, giám sát toàn bộ quá trình từ khâu thiết kế đến khi phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và triển khai xây dựng, đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Những năm qua cơ sở hạ tầng giao thông vận tải tỉnh Lai Châu những năm qua đã đƣợc quan tâm đầu tƣ nhƣng giao thông của Lai Châu cũng đang gặp những khó khăn nhƣ: Địa hình miền núi chia cắt, phức tạp, mật độ dân cƣ thấp… suất đầu tƣ cho các công trình giao thông lớn nhƣng nguồn vốn đầu tƣ còn hạn chế nên một số tuyến đƣờng huyện, đƣờng xã chất lƣợng và kỹ thuật chƣa cao, hệ thống thoát nƣớc chƣa kiên cố; một số tuyến chƣa có cầu, ngầm tràn gây khó khăn cho các phƣơng tiện đi lại trong mùa mƣa lũ. Việc thực hiện “xã hội hoá” các tuyến đƣờng giao thông nông thôn trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, do điều kiện kinh tế, nguồn kinh phí địa phƣơng hạn chế, việc huy động doanh nghiệp và Nhân dân đóng góp gặp nhiều khó khăn; công tác bảo trì, bảo dƣỡng đƣờng giao thông nông thôn chƣa đƣợc chú trọng, nguồn kinh phí hạn hẹp, chủ yếu huy động Nhân dân nơi có tuyến đƣờng đi qua đóng góp ngày công lao động… Dự án xây dựng tuyến đƣờng qua hai điểm T1 - T2 là một dự án giao thông quan trọng nối từ Thị trấn Phong Thổ, huyện Phong Thổ đến Thành phố Lai Châu đồng thời cũng là một công trình nằm trong hệ thống Tỉnh lộ đã đƣợc quy hoạch. 1 PHẦN I THIẾT KẾ DỰ ÁN XÂY DỰNG TUYẾN ĐƢỜNG 2 Chƣơng 1 CƠ SỞ XÂY DỰNG DỰ ÁN 1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên Điều kiện về địa hình Tuyến đƣờng qua 2 điểm T1 - T2 thuộc tuyến Tỉnh lộ nối từ Thị trấn Phong Thổ thuộc địa phận Huyện Phong Thổ đến Thành phố Lai Châu dài 7km. Điểm T1 thuộc thị trấn Phong Thổ –Tỉnh Lai Châu ở độ cao 510m so với mực nƣớc biển Điểm T2 thuộc thành phố Lai Châu-Tỉnh Lai Châu ở độ cao 570 m so với mực nƣớc biển.1 Điều kiện địa chất và công trình xây dựng Lai Châu là tỉnh biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 400 km về phía Đông Nam, có toạ độ địa lý từ 21O51’ đến 22O49’ vĩ độ Bắc và 102O19’ đến 103O59’ kinh độ Đông; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp tỉnh Điện Biên, phía Đông và phía Đông Nam tiếp giáp với hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, phía Nam tiếp giáp với tỉnh Sơn La.

Lai Châu có 265,095 km đƣờng biên giới giáp với Trung Quốc, là tỉnh có vị trí quan trọng về địa lý và an ninh quốc phòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời với khu kinh tế cửa khẩu Mù La Thàng, Lai Châu cũng trở thành điểm kinh tế mũi nhọn giúp giao thƣơng thuận lợi với Vân Nam, Trung Quốc. Lai Châu có địa hình đƣợc tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam, có nhiều đỉnh núi cao nhƣ đỉnh Pu Sa Leng cao 3. Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, phía Đông là dãy núi Hoàng Liên Sơn, phía Tây là dãy núi Sông Mã, giữa hai dãy núi trên là phần đất thuộc vùng núi thấp tƣơng đối rộng lớn thuộc lƣu vực sông Đà với nhiều cao nguyên đá vôi dài 400 km , rộng từ 1- 25 km, cao 600 – 1000m, chạy suốt từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Quan Sơn, Quan Hóa…(Thanh Hoá).

Trên 60 diện tích có độ 3 cao trên 1.000m, trên 90 diện tích có độ dốc trên 25 , bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi chạy dài theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, xen kẽ là các thung lũng có địa hình tƣơng đối bằng ph ng nhƣ: Mƣờng So, Tam Đƣờng, Bình Lƣ, Than Uyên… Có đỉnh núi Phan Xi Păng cao 3.143m, Pu Sam Cáp cao 1.700m… Núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều sông suối, nhiều thác ghềnh, dòng chảy lƣu lƣợng lớn nên có nhiều tiềm năng về thu điện rất lớn. Cấu trúc địa hình của Lai Châu là núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông, suôi lớn, núi non xen kẽ các thung lũng sông, khe suối. Hệ thống sơn văn có thể chia thành 4 loại chính: vùng núi cao, vùng núi trung bình, núi thấp và cao nguyên. Núi cao phân bố ở phía bắc và tây bắc, kéo dài theo phƣơng tây bắc – đông nam, dọc biên giới Việt – Trung nhƣ Pu Si Lung, Pu Đen Đing, Pu Sam Sao.

Vùng núi trung bình là các vùng núi uốn nếp nằm ở độ cao 1000-2000m với cảnh quan chung là các dãy núi song song trải rộng lại bị chia cắt đã tạo nên cảnh núi rừng trùng điệp. Núi thấp là các dạng đồi, núi thấp có độ cao dwois 1000m, đây là loại hình khá phổ biến, dạng địa hình này phân bố hầu hết tại các địa phƣơng trong tỉnh. Cao nguyên: Lai Châu có cao nguyên Tả Phìn – Sin Chải với độ cao 1.1300m nằm kẹo giữa lƣu vực sông Đà và dãy Hoàng Liên Sơn, có hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, đây là cao nguyên đá vôi đồ sộ, có bề mặt kém bằng ph ng. Địa hình đồi và đồng bằng chiếm diện tích nhỏ, nằm ở rìa xen kẽ giữa những dãy núi cao là các đồi sát liền kề với các thung lũng hoặc các lòng chảo có địa hình tƣơng đối bằng ph ng nhƣ Mƣờng So, Tam Đƣờng, Bình Lƣ, Than Uyên, Sìn Hồ.

Kiểu địa hình đồi có dạng bát úp là dạng địa hình mềm mại, độ dốc nhỏ, vỏ phong hóa dày, phân bố chủ yếu ở các thung lũng Mƣờng Nhé, Bình Lƣ, Tam Đƣờng, Nậm Mạ. Các đồng bằng chủ yếu chạy dọc thung lũng, sông suối, là kết quả của quá trình bồi tụ nhƣ đồng bằng bồi tụ Sìn Hồ, Bình Lƣ, Than Uyên.2 Đặc điểm về khí hậu Lai Châu có chế độ khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới với ngày nóng, đêm lạnh, ít chịu ảnh hƣởng của bão. Khí hậu chia làm hai mùa r rệt là mùa khô và mùa mƣa. Mùa mƣa ở Lai Châu thƣờng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mƣa rất nhiều với nhiệt độ và độ ẩm không khí cao.

Đầu mùa mƣa thƣờng hay có mƣa đá. Mƣa nhiều, tập trung vào giữa các tháng 6, 7, 8 (âm lịch), chiếm 80 lƣợng mƣa cả năm. Trong thời gian đó, tổng lƣợng mƣa trung bình vào khoảng 2. Nhiệt độ trung bình vào mùa mƣa thƣờng ở mức 25 C – 30ºC.

Mùa khô lạnh bắt đầu từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 3 năm sau, khí hậu lạnh, độ ẩm của lƣợng mƣa tƣơng đối thấp. Có những tháng về mùa này, lƣợng mƣa chỉ đạt từ 5 đến 20mm. Vào những đợt rét nhất, nhiều nơi, nhiệt độ trung bình xuống tới 4 – 5 C, k m theo lạnh có sƣơng mù dày đặc, gió bấc và sƣơng muối, đặc biệt có cả tuyết ở những vùng cao, nhất là ở Dào San - Phong Thổ; ngoài ra còn có mƣa đá, gió lốc thƣờng xảy ra vào đầu mùa mƣa với tần suất trung bình 1,3 – 1,5 ngày năm. Tháng 4 và tháng 10 là thời gian chuyển giao giữa 2 mùa.

Vào thời gian này, nhiệt độ chênh lệch giữa ban ngày và ban đêm rất cao, nhiều khi nhiệt độ buổi trƣa lên tới 28 C, nhƣng về đêm nhiệt độ hạ xuống chỉ còn 18 – 20 C. Nhiệt độ không khí bình quân hàng năm là 22,25 C. Với khí hậu mang tính chất gió mùa chí tuyến, ngày nóng, đêm lạnh, lƣợng mƣa bình quân năm từ 2,500- 2,700 mm, phân bố không đều, hƣớng gió chủ yếu là gió Tây và gió Đông Nam, Lai Châu ít chịu ảnh hƣởng của bão và gió mùa Đông Bắc. Đặc điểm về thủy văn Lai Châu nằm trong khu vực đầu nguồn và phòng hộ đặc biệt xung yếu của sông Đà, sông Nậm Na và sông Nậm Mu, điều tiết nguồn mƣớc trực tiếp cho các công trình thủy điện lớn trên sông Đà, đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả vùng châu thổ sông Hồng.

Lai Châu là vùng thƣợng lƣu sông Đà, lƣợng mƣa lớn, hệ thống sông suối khá dày đặc, mật độ sông suối cao từ 5,5- 6 km/km2. 5 Trong đó đa phần các sông, suối lớn đều có nƣớc chảy mạnh. Tổng lƣợng dòng chảy năm toàn tỉnh khoảng 16,87 triệu m3, phân bố giảm dần từ bắc xuống nam. Lai Châu là phần thƣợng lƣu sông Đà, khi bắt đầu chảy vào lãnh thổ Việt Nam.

Hầu hết các sông suối của lƣu vực này là những sông suối nhỏ, chảy từ trên vùng núi Pulasan ( tả ngạn) và Pusilung (hữu ngạn) xuống sông Đà. Độ cao trung bình cửa lƣu vực là 1036m, độ cao dƣới 300m không những không đáng kể (gần 5Ha) mà tất cả số này còn có độ dốc trên 35. Độ dốc trung bình đƣợc xác định là hơn 20 , đặc biệt ở đây xuất hiện dộ dốc cực đại lớn nhất tỉnh 86 º. Sông Đà bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam – Trung Quốc chảy qua địa bàn huyện Mƣờng T , sau đó chạy dọc phía nam huyện Sìn Hồ, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên.

Sông Đà có 3 chi lƣu là các sông: Nậm Na, Nậm Mạ, Nậm Mu. Dự án nằm ở khu vực miền núi có địa hình bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông suối. Triển tuyến nên tránh khu vực đồi núi vì sẽ làm tăng khối lƣợng thi công. Khảo sát địa chất khu vực ven sông cho thấy khu vực này có địa chất khá ổn định.

Vì vậy, nên chọn lối đi tuyến ven sông, tránh khu vực đồi núi có độ dốc lớn.2 Đặc điểm điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội 1.1 Dân số và sự phát triển dân số Dân số toàn tỉnh có 415.300 ngƣời, gồm 20 dân tộc cùng sinh sống trong đó dân tộc Thái với số lƣợng lớn nhất 131.822 ngƣời, chiếm 34%; dân tộc Mông 86.467 ngƣời, chiếm 22,30%; dân tộc Kinh 54.027 ngƣời, chiếm 13,94%; dân tộc Dao 51.995 ngƣời, chiếm 13,41%; dân tộc Hà Nhì 14.658 ngƣời, chiếm 3,78%; dân tộc Giáy 12.443 ngƣời, chiếm 3,21%; dân tộc Khơ Mú 7.464 ngƣời, chiếm 1,93%; dân tộc La Hủ 10.141 ngƣời, chiếm 2,62%; dân tộc Lự 6.074 ngƣời, chiếm 1,57%; dân tộc Lào 6.020 ngƣời, chiếm 1,55%; dân tộc Mảng 2.995 ngƣời, chiếm 0,77%; dân tộc Cống 1.256 ngƣời, chiếm 0,32%; dân tộc Hoa 588 ngƣời, chiếm 0,15%; dân tộc Si La 546 ngƣời, chiếm 0,14%; dân tộc Kháng 161 ngƣời, chiếm 0,04%; dân tộc Tày 295 ngƣời, chiếm 0,08%; dân tộc 6 Mƣờng 116 ngƣời, chiếm 0,03%; dân tộc Nùng 180 ngƣời, chiếm 0,05%; dân tộc Phù Lá 27 ngƣời, chiếm 0,01%; các dân tộc khác 458 ngƣời, chiếm 0,12%. Đồng bào Lai Châu có các dân tộc : M o, Tày, Mƣờng, Pù Ná, Xá, Hu Ni, Yao, Lào.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ