Đặt vấn đề Để thiết bù công suất phản kháng, trứơc hết ta cần biết về vai trò tác dụng quan trọng của nó trong một hệ thống điện. Bù công suất phản kháng có tác dụng: Điều chỉnh hệ số công suất thường là thực hiện việc cấp công suất phản kháng càng gần tải càng tốt. Hầu hết các phụ tải công nghiệp, nông nghiệp tiêu thụ nhiều công suất phản kháng. Vì thế dòng tải có khuynh hướng lớn hơn dòng điện cần thiết để cung cấp riêng cho công suất sinh công vì vậy lãng phí do phải tăng tiết diện dây, gây tổn thất điện áp cũng như điện năng lớn hơn yêu cầu thực tế.
Điều áp là một vấn đề quan trọng và đặc biệt cần thiết nếu trong lưới điện có các phụ tải có nhu cầu công suất phản kháng luôn thay đổi. Trong mọi trường hợp, sự biến thiên về nhu cầu công suất phản kháng sẽ gây ra sự biến thiên điện áp tại điểm cung cấp làm ảnh hưởng đến hoạt động của các phụ tải đấu nối tiếp vào điểm đó và làm tăng khả năng nhiễu loạn giữa các phụ tải ở gần. Để ngăn ngừa việc này các công ty điện lực phải cố gắng duy trì điện áp trong giới hạn quy định. Ở các nước, người ta quy định giới hạn thay đổi điẹn áp trong khoảng 5% trong thời gian vài phút hay vài giờ, đến các giới hạn khắc nghiệt đối với các tải lớn biến thiên nhanh gây ra độ dốc điện áp lớn, có hại cho việc vận hành các thiết bị bảo vệ và hiện tượng chớp nháy gây khó chịu cho mắt người.
Trong trường hợp này thiết bị bù đóng vai trò quan trọng việc duy trì điện áp trong giới hạn quy định. Cân bằng phụ tải: Hầu hết các phụ tải xoay chiều lớn đều dùng dòng điện ba pha và được thiết kế vận hành ở chế độ cân bằng. Nếu các phụ tải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www.edu 2 hoạt động không cân bằng làm bằng làm tăng các thứ tự nghịch và thứ tự không của dòng điện. Các thành phần này sẽ có tác dụng xấu như tổn thất trong động cơ máy phát gây dao động mômen ở các máy điện xoay chiều, gia tăng độ gợn sóng điện áp trong các bộ phân chỉnh lưu làm cho thiét bị điện học sinh không đúng chế độ, làm tăng bão hoà từ cho các máy biến áp và dòng trung tính vượt quá mức cho phép một số thiết bị bao gồm nhiều loại thiết bị bù làm việc phụ thuộc vào việc vận hành cân bằng để hạn chế sóng hài.
Số lượng sóng hài trong sóng điện áp là thông số quan trọng của chất lượng nguồn điện được đặc trưng bởi phổ các dao động điều hoà trên phổ tần công nghiệp cơ bản. Các sóng hài thường được hạn chế bởi các bộ lọc, các bộ lọc này có nguyên tắc thiết kế khác với vấn thiết bị bù. Tuy nhiên vấn đề sóng hài thường nảy sinh cùng vấn đề phụ tải do đó vấn đề bù và lọc sóng hài cũng được quan tâm. Khái niệm hệ thống điện và phụ tải điện 1.
Hệ thống điện Hệ thống điện bao gồm các nhà máy điện, trạm biến áp, các đường dây tải điện và các thiết bị khác (thiết bị điều khiển, tụ bù, thiết bị bảo vệ…) được nối liền với nhau thành hệ thống làm nhiệm vụ sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng. Tập hợp các bộ phân của hệ thống điện (HTĐ) gồm các đường dây tải điện và các trạm biến áp được gọi là lưới điện. Điện năng truyền tải đến hộ tiêu thụ phải thoả mãn các tiêu chuẩn phục vụ (bao gồm chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện) và có chi phí sản xuất, truyền tải và phân phối nhỏ nhất. Các thiết bị dùng điện được gọi chung là phụ tải điện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www. Phụ tải điện Phụ tải điện gồm công suất tác dụng P và công suất phản kháng Q yêu cầu tại một điểm nào đó của lưới điện. Công suất tác dụng là P là công suất sinh ra công, tiêu hao năng lượng của nguồn điện. Công suất phản kháng Q thường là công suất sinh ra từ trường, mang cảm tính, không tiêu thụ năng lượng của nguồn, nhưng dòng điện do nó sinh ra khi chạy trong dây dẫn gây ra tổn thất công suất tác dụng và tổn thất điện năng.
Công suất P và Q có tương quan với nhau , được đặc trưng chung bằng công suất biểu kiến S và cos.sin U là điện áp dây 3U là điện áp pha (1.2) Xét dòng điện hình sin trong mạch. t) i( I m t sin() Trong đó: Im : Trị số cực đại của dòng điều hoà t + : Góc pha : Tần số góc : Pha ban đầu Với dòng chu kỳ i(t) đã cho có thể tìm được trị số dòng không đổi I tương dương về mặt tiêu tán năng lượng trong thời gian một chu kỳ T, nghĩa là trong một mạch đơn giản thuần trở.3) 0 Trị số dòng không đổi I tương đương về mặt tiêu tán với dòng chu kỳ i(t) được gọi là giá trị hiệu dụng của chu kỳ. Như vậy có thể viết: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www.4) Xét mạch gồm các phần tử nối tiếp R-L-C với kích thích điều hoà u (t )2 . sin t 2 L C Theo quan hệ hiệu dụng giữa U và I ta có: U I R 2 ( L 1/C ) 2 2 R( X LX2 ) C Z (1.6) U 2 2 Hay: Z RX I Ở đây ta thấy R và X đặc trưng cho hai quá trình năng lượng khác nhau hẳn về bản chất (tiêu tán và dao động). Mạch R L C nối tiếp và đồ thị véctơ điện áp Từ đồ thị véctơ (hình 1.1) ta tìm được góc lệch pha giữa u và i.
tg U L U UCX L X CX R R (1.cos Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www.sin Xét sự tiêu thụ năng lượng xảy ra trong mạch điện có tải là điện trở và điện kháng. Mạch điện được cung cấp bởi một điện áp.8) Dòng điện i lệch pha với u một góc : i t Im. cos t ) i 'i ' Với i'Im .11) Như vậy dòng điện i là tổng của hai thành phần: i' - Có biên độ Im. cos cùng pha với điện áp.
sin chậm pha với điện áp một góc /2 Công suất tương ứng với hai thành phần i' và i'' là: + P = U. cos gọi là công suất tác dụng P = U.12) Vậy công suất tác dụng P là công suất biến năng lượng điện thành ra các dạng năng lượng khác và sinh công. cos gọi là công suất tác dụng Q = U.13) Vậy công suất phản kháng Q của một nhánh nói lên cường độ của quá trình dao động năng lượng. Ta có biểu diễn quan hệ P, Q như sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www.
Đồ thị quan hệ giữa P và Q 1. Chế độ làm việc và cân bằng công suất trong hệ thống điện 1. Chế độ làm việc Khi hệ thống điện hoạt động, tập hợp các dạng quá trình xảy ra trong hệ thống điện hoặc một phần hệ thống điện và trạng thái của nó trong một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định gọi là chế độ của hệ thống điện. Chế độ của hệ thống điện đặc trưng bởi các thông số chế độ đó là công suất tác dụng P, công suất phản kháng Q, điện áp U, góc pha của điện áp, dòng điện I tại mọi điểm của hệ thống điện.
Các thống số này biến thiên liên tục trong thời gian do nhu cầu điện năng của phụ tải luôn biến đổi theo quy luật của sản xuất, đời sống và do sự kiện bất thường khác được gọi chung là sự cố như: ngắn mạch, hỏng hóc ngẫu nhiên các tổ máy hoặc các đường dây điện. Chế độ xác lập là chế độ làm việc bình thường của hệ thống điện, trong đó các thông số chế độ được coi không đổi. Chế độ quá độ là chế độ trong đó các thông số chế độ biến đổi rất nhanh, mạnh. Chế độ quá độ bình thường là chế độ xảy ra khi yêu cầu công suất phụ tải biến đổi rất nhanh, còn chế độ quá độ sự cố là chế độ xảy ra khi xảy ra sự cố trong hệ thống điện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Nông lâm http://www. Cân bằng công suất tác dụng và công suất phản kháng * Cân bằng công suất là điều kiện cần của chế độ xác lập, để có thể tồn tại chế độ xác lập còn phải có đủ điều kiện, đó là điều kiện ổn định tĩnh. Trong vận hành hệ thống điện luôn bị các kích động nhỏ, đó là sự biến đổi nhỏ cân bằng công suất tác dụng. Các kích động này tác động lên cân bằng công suất cơ điện ở trục tuabin của các tổ máy phát làm cho tốc độ quay cơ học của tuabin bị biến đổi.
Nếu sau khi bị kích động này, máy phát có khả năng khôi phục lại chế độ ban đầu thì máy phát có khả năng ổn định tĩnh. Khả năng ổn định tĩnh của hệ thống điện phụ thuộc vào cấu trúc của nó và vào chế độ làm việc. Hệ thống điện phải có độ dự trữ nhỏ hơn công suất cực đại mà một đường dây có thể tải được theo điều kiện ổn định tĩnh một khoảng cách ít nhất bằng độ dự trữ ổn định tĩnh. * Công suất tác dụng và công suất phản kháng của nguồn điện phải luôn cân bằng với công suất yêu cầu của phụ tải trong mọi thời điểm vận hành.
- Nếu công suất tác dụng của nguồn điện nhỏ hơn yêu cầu của phụ tải thì tần số sẽ giảm và ngược lại. Tần số là thước đo cân bằng công suất tác dụng. Khi tần số nằm trong phạm vi cho phép quy định bởi tiêu chuẩn chất lượng điện năng thì có nghĩa là đủ công suất tác dụng. Nếu tần số cao hơn thì công suất nguồn dư thừa so với phụ tải, ngược lại nếu tần số thấp hơn thì công súât nguồn thiếu so với phụ tải.
Cân bằng công suất tác dụng có tính chất toàn hệ thống, tần số tại mọi nơi trên hệ thống điện luôn như nhau.