Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển của nền kinh tế và quá trình đô thị hóa tại các thành phố lớn ở Việt Nam vào cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000 đã làm gia tăng nhanh chóng mật độ phương tiện tham gia giao thông. Thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn này ghi nhận tình trạng ùn tắc giao thông thường xuyên xảy ra trên các tuyến đường trọng điểm như Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Cách Mạng Tháng Tám, Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nguyễn Thị Minh Khai. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc số lượng chốt đèn tín hiệu trên các tuyến đường còn quá ít, các hệ thống điều khiển tín hiệu cũ thường xuyên hư hỏng, dẫn đến việc người tham gia giao thông không chấp hành đúng luật lệ, gia tăng tai nạn và gây mất trật tự an toàn xã hội.

Nhằm giải quyết bài toán điều tiết giao thông tại các nút giao, đề tài tập trung vào việc nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mô hình mạch điều khiển đèn tín hiệu giao thông ứng dụng kỹ thuật vi điều khiển.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Khảo sát nguyên lý hoạt động, ưu điểm và nhược điểm của các dạng mạch điều khiển đèn giao thông sử dụng IC số rời trên thực tế.
  2. Nghiên cứu kiến trúc phần cứng, tập lệnh và phương thức lập trình trên vi điều khiển 8951 thuộc họ MCS-51.
  3. Thiết kế sơ đồ nguyên lý các khối chức năng: khối nguồn ổn áp 5V, khối xử lý trung tâm, khối hiển thị đèn màu tín hiệu, khối hiển thị thời gian đếm lùi và khối chuyển mạch điều khiển chế độ.
  4. Thi công phần cứng hoàn chỉnh, lập trình phần mềm điều khiển bằng hợp ngữ (Assembly) và kiểm nghiệm hoạt động thực tế của mạch.

Đối tượng nghiên cứu của đồ án là mạch điều khiển đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư giao lộ. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở mô hình điều khiển tín hiệu đèn ngã tư gồm 3 màu (xanh, vàng, đỏ), hiển thị thời gian đếm lùi bằng LED 7 đoạn, tích hợp chế độ đèn vàng cảnh báo ban đêm và các chế độ điều khiển ưu tiên cho từng tuyến đường. Đề tài được thực hiện bởi sinh viên Hoàng Văn Công (Khoa Điện - Điện tử, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn của thầy Lê Thanh Đạo trong thời gian từ ngày 03/12/2001 đến ngày 02/03/2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết của đồ án dựa trên nền tảng kỹ thuật vi xử lý - vi điều khiển và lý thuyết mạch điện tử số:

  • Kiến trúc vi điều khiển 8951 (họ MCS-51): Khảo sát cấu trúc phần cứng của vi điều khiển gồm 8KB EPROM/Flash, 128 byte RAM nội, 4 cổng xuất nhập 8-bit (Port 0 đến Port 3), hệ thống thanh ghi chức năng đặc biệt (SFR), 2 bộ định thời 16-bit (Timer 0 và Timer 1), cổng truyền thông nối tiếp UART và hệ thống 5 nguồn ngắt. Cấu trúc bộ nhớ Harvard với không gian bộ nhớ chương trình và bộ nhớ dữ liệu độc lập có khả năng mở rộng lên đến 64KB.
  • Lý thuyết mạch logic và hiển thị số: Nguyên lý đệm tín hiệu công suất nhỏ qua IC đệm 8-bit 74LS244; nguyên lý giải mã và điều khiển hiển thị LED 7 đoạn loại Anode chung (Common Anode); nguyên lý chuyển mạch trạng thái thông qua các ngõ vào logic logic mức cao/thấp.
  • Kỹ thuật ổn áp nguồn tuyến tính: Nguyên lý hoạt động của mạch ổn áp nguồn DC một chiều dùng IC 7805 kết hợp tầng biến áp hạ áp và cầu nắn chỉnh lưu.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh: Khảo sát các sơ đồ mạch điều khiển đèn giao thông dùng linh kiện logic rời (mạch sử dụng NE555 kết hợp các IC họ CMOS/TTL như 4017, 74LS93, 4514B) để phân tích ưu - khuyết điểm, từ đó xác lập luận cứ cho việc chọn giải pháp vi điều khiển.
  • Phương pháp thiết kế kỹ thuật: Phân tích yêu cầu chức năng, phân chia hệ thống thành các khối độc lập (nguồn, vi điều khiển, hiển thị LED đơn, hiển thị LED 7 đoạn, công tắc điều khiển), tính toán thông số linh kiện và vẽ sơ đồ mạch nguyên lý.
  • Phương pháp lập trình hệ thống nhúng: Xây dựng lưu đồ giải thuật, viết mã nguồn bằng Hợp ngữ (MCS-51 Assembly), sử dụng trình biên dịch chuyên dụng để tạo mã máy dạng Hex.
  • Phương pháp thực nghiệm: Lắp ráp linh kiện trên bo mạch, nạp chương trình vào EPROM của vi điều khiển 8951 và vận hành kiểm thử các chế độ hoạt động trong điều kiện thực tế.

Thiết kế và triển khai

Hệ thống điều khiển tín hiệu đèn giao thông được thiết kế theo cấu trúc mô-đun gồm 5 khối chức năng chính:

  1. Khối nguồn nuôi DC: Chuyển đổi điện áp xoay chiều lưới điện 220VAC qua biến áp hạ áp xuống 6,3VAC, đưa qua mạch chỉnh lưu cầu diode 1A tạo ra điện áp một chiều. Tụ điện C1 (giá trị 220µF) được mắc song song để lọc phẳng và chống nhiễu. Điện áp sau đó đi qua IC ổn áp tuyến tính 7805 để cung cấp nguồn 5VDC ổn định cho vi điều khiển và toàn bộ các vi mạch trong hệ thống.
  2. Khối xử lý trung tâm: Sử dụng vi điều khiển 8951 với mạch tạo dao động thạch anh ngoài có tần số 12MHz kết hợp hai tụ gốm 30pF. Mạch reset tự động khi cấp nguồn kết hợp nút bấm phục hồi trạng thái thủ công được nối vào chân số 9 (RST). Chân EA được nối lên mức logic 1 (+5V) để chỉ định vi điều khiển thực thi chương trình chứa trong ROM nội.
  3. Khối hiển thị đèn giao thông: Gồm 6 đèn LED đơn đại diện cho 2 hướng ngã tư (Hướng 1: Đ1, V1, X1; Hướng 2: Đ2, V2, X2). Tín hiệu từ Port 0 của 8951 được đưa qua IC đệm 8 kênh 74LS244 nhằm tăng khả năng chịu tải dòng điện trước khi cấp đến các đèn LED (mắc theo kiểu cực Katot nối mass).
  4. Khối báo thời gian đèn sáng: Sử dụng 1 LED 7 đoạn loại Anode chung kết nối trực tiếp với 8 đường tín hiệu của Port 1 (P1.0 nối đoạn a, P1.1 nối đoạn b, ..., P1.7 nối dấu chấm p). Vi điều khiển xuất các mã nhị phân tương ứng để hiển thị đếm lùi thời gian sáng của đèn tín hiệu (từ số 9 về 0).
  5. Khối công tắc điều khiển chế độ: Sử dụng 3 công tắc gạt SW1, SW2, SW3 kết nối với các chân P2.0, P2.1, P2.2 của Port 2. Các mức logic tại Port 2 quyết định việc chuyển trạng thái làm việc của toàn bộ hệ thống.
Chế độ hoạt động Trạng thái công tắc (SW1 - SW2 - SW3) Dữ liệu tại Port 2 Quy luật hiển thị và điều khiển
Đèn giao thông tự động Đều nối lên mức 1 0FFH - Pha 1: Hướng 1 Đèn Đỏ (Đ1) + Hướng 2 Đèn Xanh (X2) sáng 9 giây; sau đó Hướng 1 Đèn Đỏ (Đ1) + Hướng 2 Đèn Vàng (V2) sáng 1 giây.
- Pha 2: Hướng 1 Đèn Xanh (X1) + Hướng 2 Đèn Đỏ (Đ2) sáng 9 giây; sau đó Hướng 1 Đèn Vàng (V1) + Hướng 2 Đèn Đỏ (Đ2) sáng 1 giây.
Đèn cảnh báo ban đêm SW1 = 0, SW2 = 1, SW3 = 1 0FEH Tắt đèn xanh và đèn đỏ trên cả 2 hướng; 2 đèn vàng (V1 và V2) chớp tắt liên tục với chu kỳ 1 giây.
Ưu tiên tuyến 1 SW1 = 1, SW2 = 0, SW3 = 1 0FDH Đèn Đỏ 1 (Đ1) và Đèn Xanh 2 (X2) sáng cố định liên tục, giải phóng lưu lượng xe trên tuyến 2.
Ưu tiên tuyến 2 SW1 = 1, SW2 = 1, SW3 = 0 0FBH Đèn Đỏ 2 (Đ2) và Đèn Xanh 1 (X1) sáng cố định liên tục, giải phóng lưu lượng xe trên tuyến 1.

Phần mềm điều khiển hệ thống được viết bằng Hợp ngữ MCS-51, thực hiện theo quy trình:

  • Soạn thảo tập tin nguồn CONG1.ASM trên môi trường DOS bằng trình soạn thảo NC (Norton Commander).
  • Sử dụng trình biên dịch ASM51.EXE để kiểm tra lỗi cú pháp và xuất ra 2 tập tin CONG1.LST và CONG1.OBJ.
  • Sử dụng tiện ích OH.EXE để chuyển đổi tập tin CONG1.OBJ sang định dạng mã máy CONG1.HEX.
  • Nạp tập tin Hex vào bộ nhớ EPROM của vi điều khiển 8951.

Thuật toán tạo khoảng thời gian trễ chính xác 1 giây (DELAY) được xây dựng bằng cách cấu hình Timer 0 hoạt động ở Chế độ 1 (16-bit định thời). Với tần số thạch anh 12MHz, mỗi chu kỳ máy kéo dài 1µs. Chương trình nạp giá trị ban đầu cho các thanh ghi TH0 = 50H và TL0 = 9AH để tạo trễ 50ms cho mỗi lần đếm tràn, kết hợp thanh ghi R7 làm biến đếm vòng lặp 20 lần để đạt tổng thời gian trễ $50\text{ms} \times 20 = 1\text{s}$. Trong mỗi chu kỳ đếm lùi 1 giây của các chương trình con giải mã (GMA1, GMA2, GMA3), chương trình liên tục gọi các hàm kiểm tra ngõ vào Port 2 (KTRA1, KTRA11, KTRA111) nhằm phản hồi ngay lập tức khi người vận hành thao tác công tắc chuyển đổi chế độ.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: Mở Đầu

Chương này trình bày lý do chọn đề tài dựa trên thực trạng phát triển giao thông đô thị và nhu cầu hiện đại hóa hạ tầng điều khiển tín hiệu tại các giao lộ ở Việt Nam, đặc biệt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả phân tích các hệ quả của việc thiếu đèn tín hiệu và tình trạng thiết bị hư hỏng dẫn đến ùn tắc và tai nạn giao thông. Nội dung chương đồng thời xác định phạm vi giới hạn của đề tài: tập trung nghiên cứu, thiết kế và chế tạo mạch điều khiển đèn giao thông ngã tư có tích hợp bộ đếm hiển thị thời gian, chế độ đèn báo nhấp nháy ban đêm và các chế độ đèn ưu tiên cho từng tuyến đường.

CHƯƠNG II: Giới Thiệu Về Một Số Mạch Điều Khiển Đèn Giao Thông

Chương II tiến hành khảo sát và phân tích nguyên lý hoạt động của hai sơ đồ mạch điều khiển đèn giao thông sử dụng linh kiện điện tử số rời phổ biến trên thị trường tại thời điểm nghiên cứu:

  • Mạch 1: Sử dụng IC định thời NE555 tạo xung nhịp 1Hz đưa vào IC đếm nhị phân 74LS93 để tạo mã BCD (0000 đến 1111). Tín hiệu được giải mã bằng IC phân kênh CMOS 4514B (4 sang 16 đường). Mạch dùng 14 trạng thái kết hợp IC 4081 (4 cổng AND) để tự động reset khi đếm đến trạng thái thứ 13. Khối cài đặt thời gian dùng IC 4040 (bộ đếm 12-bit), IC 4042 (chốt 4-bit) và IC 7485 (so sánh 4-bit) để phân chia 2 khoảng thời gian: 5h sáng - 23h đêm (chạy chế độ giao thông) và 23h đêm - 5h sáng (chạy chế độ đèn vàng cảnh báo chớp tắt 1s). Khối giải mã dùng IC 4017 và hiển thị qua rơ-le điều khiển đèn công suất. Ưu điểm là tự chuyển đổi trạng thái ngày/đêm, nhưng nhược điểm là mạch rất cồng kềnh, dùng quá nhiều IC, chi phí cao, không có chế độ ưu tiên, không hiển thị thời gian và khi muốn đổi chu kỳ đèn phải thiết kế lại toàn bộ phần cứng.
  • Mạch 2: Sử dụng IC NE555 tạo dao động xung vuông có tần số $f = 0,72 \div 0,48\text{Hz}$ (điều chỉnh qua biến trở VR) đưa vào chân xung clock của IC đếm Johnson 4017 kết hợp cổng logic OR của IC 4071. Mạch tạo ra chu kỳ điều khiển 45 giây (đèn xanh 20s, đèn vàng 5s) và có công tắc chuyển sang chế độ đèn vàng nhấp nháy bằng tay. Ưu điểm là mạch gọn nhẹ, tiêu thụ công suất nhỏ, chi phí thấp; tuy nhiên nhược điểm là không hiển thị thời gian đếm lùi, chu kỳ đèn không thể tùy chỉnh linh hoạt.

Từ việc phân tích 2 mạch trên, tác giả lập bảng so sánh và đi đến quyết định lựa chọn giải pháp thiết kế mạch sử dụng vi điều khiển 8951 nhằm tối ưu kích thước phần cứng, giảm chi phí, tích hợp đầy đủ hiển thị thời gian và cho phép thay đổi chu kỳ đèn linh hoạt thông qua lập trình phần mềm.

CHƯƠNG III: Giới Thiệu Về Các IC Liên Quan

Chương III cung cấp cơ sở lý thuyết chi tiết về các vi mạch tích hợp được sử dụng trong thiết kế:

  • Vi điều khiển 8951: Trình bày chi tiết sơ đồ khối chức năng, sơ đồ chân 40 chân (DIP-40), chức năng chuyên dụng của các chân Port 0, Port 1, Port 2, Port 3 và các đường tín hiệu điều khiển PSEN, ALE, EA, RST. Khảo sát cấu trúc bản đồ bộ nhớ RAM nội (bao gồm 4 bank thanh ghi từ 00H-1FH, vùng nhớ định vị từng bit từ 20H-2FH, vùng RAM đa dụng từ 30H-7FH và 21 thanh ghi chức năng đặc biệt SFR từ 80H-FFH). Phân tích cấu trúc và hoạt động của thanh ghi trạng thái chương trình (PSW), thanh ghi con trỏ ngăn xếp (SP), thanh ghi con trỏ dữ liệu (DPTR). Phân tích chi tiết 4 chế độ hoạt động của 2 bộ định thời Timer 0 và Timer 1 thông qua thanh ghi TMOD và TCON; khảo sát các chế độ truyền thông của cổng nối tiếp UART (Mode 0, 1, 2, 3) qua thanh ghi SCON, PCON; cấu trúc 5 nguồn ngắt và 2 mức ưu tiên qua thanh ghi IE, IP. Tóm tắt tập lệnh 8951 (gồm 139 lệnh 1 byte, 92 lệnh 2 byte, 24 lệnh 3 byte) và 8 chế độ định vị địa chỉ.
  • IC đệm 74LS244: Trình bày sơ đồ chân, sơ đồ logic bên trong và bảng trạng thái hoạt động của IC đệm 8 đường 3 trạng thái (Octal Buffer/Line Driver), giải thích vai trò của hai chân cho phép ngõ ra 1G và 2G trong việc đệm tín hiệu điều khiển từ Port 0 đến các đèn LED.

CHƯƠNG IV: Thiết Kế Và Thi Công Mạch

Chương IV trình bày toàn bộ quá trình tính toán thiết kế phần cứng và xây dựng phần mềm:

  • Thiết kế phần cứng: Trình bày sơ đồ khối tổng quát và tính toán chi tiết cho từng khối: thiết kế khối nguồn ổn áp 5V dùng biến áp, cầu nắn, tụ lọc $220\mu\text{F}$ và IC 7805 (dòng tiêu thụ mỗi LED là 20mA); thiết kế khối hiển thị đèn màu qua IC đệm 74LS244; thiết kế khối hiển thị thời gian bằng LED 7 đoạn Anode chung qua Port 1 (xây dựng bảng mã Hex từ số 0 đến số 9); thiết kế khối chuyển mạch công tắc qua Port 2; thiết kế sơ đồ nguyên lý toàn mạch và vẽ sơ đồ mạch in thi công.
  • Thi công phần mềm: Giới thiệu về ngôn ngữ máy và hợp ngữ Assembly; hướng dẫn quy trình soạn thảo mã nguồn trong môi trường NC, quy trình biên dịch bằng ASM51.EXE và công cụ chuyển đổi mã máy OH.EXE. Xây dựng lưu đồ giải thuật chi tiết cho chương trình điều khiển đèn giao thông. Cung cấp toàn văn mã nguồn chương trình CONG1.ASM (bao gồm chương trình chính X0, chương trình con tạo trễ DELAY, chương trình giải mã hiển thị thời gian GMA1, GMA2, GMA3, chương trình kiểm tra công tắc KTRA1, KTRA11, KTRA111, KTRA2, KTUT1, KTUT2, chương trình chế độ cảnh báo DBAO và chương trình các chế độ ưu tiên UT1, UT2), bảng kê địa chỉ biểu tượng (Symbol Table Listing) và mã máy CONG1.HEX.

CHƯƠNG V: Tổng Kết

Chương V đánh giá kết quả thực hiện của đề tài:

  • Ưu điểm: Mạch tiêu thụ công suất nhỏ, thiết kế phần cứng gọn nhẹ, chi phí gia công chế tạo thấp, độ bền và thời gian vận hành ổn định đã được kiểm chứng qua thực nghiệm.
  • Nhược điểm: Mạch chưa có tính năng tự động chuyển đổi giữa chế độ điều khiển giao thông ban ngày và chế độ đèn vàng cảnh báo ban đêm; chu kỳ đếm thời gian của đèn giao thông chưa hỗ trợ thay đổi trực tiếp bằng nút bấm tại hiện trường mà phải nạp lại phần mềm.
  • Biện pháp khắc phục và hướng phát triển: Đề xuất giải pháp bổ sung bộ nhớ EPROM ngoài và tích hợp IC đồng hồ thời gian thực (RTC) để tự động kích hoạt chế độ giao thông từ 5h00 đến 23h00 và chế độ cảnh báo từ 23h00 đến 5h00; thiết kế nâng cấp mạch hiển thị ngõ ra từ LED đơn sang các tầng công tắc bán dẫn công suất lớn (Triac/Rơ-le) để đóng cắt trực tiếp các dàn đèn tín hiệu công suất lớn tại giao lộ đường phố.

Kết quả và đóng góp

Đồ án đã hoàn thành đầy đủ các mục tiêu đề ra về mặt thiết kế kỹ thuật, lập trình điều khiển và chế tạo mô hình thực nghiệm:

  • Kết quả kỹ thuật cụ thể:
    • Chế tạo thành công mô hình mạch phần cứng hoàn chỉnh chạy nguồn 5VDC, tích hợp vi điều khiển 8951, IC đệm 74LS244, 1 LED 7 đoạn hiển thị thời gian và 6 LED chỉ thị màu.
    • Vận hành chính xác 4 chế độ làm việc: Chế độ giao thông tự động với chu kỳ 10 giây mỗi pha (9 giây đèn chính + 1 giây đèn chuyển tiếp/đèn vàng); Chế độ cảnh báo ban đêm nhấp nháy đèn vàng chu kỳ 1 giây; Chế độ ưu tiên tuyến 1 (Đ1 và X2 sáng liên tục); Chế độ ưu tiên tuyến 2 (Đ2 và X1 sáng liên tục).
    • Phần mềm nhúng bằng Assembly được tối ưu hóa, sử dụng Timer 0 định thời chính xác 1 giây (20 vòng lặp 50ms nạp giá trị TH0 = 50H, TL0 = 9AH), phản hồi tức thì với các thao tác chuyển đổi công tắc từ người vận hành.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Cung cấp giải pháp kỹ thuật thay thế hiệu quả cho các mạch điều khiển đèn giao thông dùng linh kiện số rời thế hệ cũ, giúp giảm thiểu đáng kể số lượng linh kiện, giảm kích thước bo mạch và hạ giá thành thi công.
    • Cung cấp một tài liệu thiết kế hệ thống nhúng hoàn chỉnh từ khâu khảo sát lý thuyết, thiết kế phần cứng, lập trình phần mềm hợp ngữ đến quy trình biên dịch nạp chip trong môi trường thực hành kỹ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Mặc dù mô hình đã vận hành ổn định, tác giả cũng chỉ rõ các hạn chế tồn tại do giới hạn về mặt thời gian thực hiện (3 tháng) và điều kiện kỹ thuật:

  • Hạn chế:
    • Hệ thống chưa có bộ định thời gian thực (RTC) để tự động chuyển đổi trạng thái hoạt động theo các khung giờ cố định trong ngày (phải thao tác thủ công qua công tắc gạt).
    • Chu kỳ đếm lùi thời gian được lập trình cứng trong bộ nhớ vi điều khiển, không thể tùy biến trực tiếp chu kỳ sáng của từng màu đèn tại tủ điều khiển mà phải biên dịch và nạp lại mã Hex.
    • Tầng công suất ngõ ra chỉ mới dừng lại ở mức điều khiển các LED phát quang công suất nhỏ (dòng khoảng 20mA) trên mô hình mô phỏng, chưa tích hợp rơ-le hoặc linh kiện bán dẫn công suất để kéo tải đèn giao thông thực tế.
  • Hướng phát triển:
    • Thiết kế ghép nối thêm bộ nhớ mở rộng (EPROM/EEPROM) và mạch đồng hồ thời gian thực để vi điều khiển tự động phân chia chế độ vận hành theo mốc giờ: chạy chương trình đèn giao thông từ 5h00 đến 23h00 và chuyển sang chế độ đèn vàng cảnh báo từ 23h00 đến 5h00 sáng hôm sau.
    • Thiết kế lại khối hiển thị công suất cao: bổ sung các tầng đệm điều khiển rơ-le hoặc Triac ở ngõ ra của IC 74LS244 để đóng ngắt nguồn 220VAC cho hệ thống đèn tín hiệu giao thông công suất lớn ngoài hiện trường.

Giá trị tham khảo

Đồ án là tài liệu kỹ thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Kỹ thuật Điện, Điện tử, Kỹ thuật Máy tính và Tự động hóa: Là tài liệu tham khảo trực quan cho các môn học Vi xử lý - Vi điều khiển, Kỹ thuật số, Thiết kế mạch điện tử và Đồ án môn học/Đồ án tốt nghiệp.
  • Người làm đề tài về hệ thống nhúng vi điều khiển 8051: Cung cấp tài liệu tra cứu có hệ thống về cấu trúc phần cứng MCS-51, bản đồ thanh ghi SFR, bảng mã hiển thị LED 7 đoạn Anode chung, kỹ thuật định thời Timer 16-bit và quy trình biên dịch bằng các công cụ cổ điển (ASM51, OH) trong môi trường DOS.
  • Kỹ thuật viên và người nghiên cứu thiết kế mạch: Cung cấp sơ đồ nguyên lý chuẩn cho khối giao tiếp IC đệm 74LS244, khối tạo trễ chính xác và kỹ thuật quét trạng thái công tắc đa ngõ vào trong lập trình hệ thống thời gian thực.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao tác giả lại chọn vi điều khiển 8951 thay vì tiếp tục sử dụng các mạch logic rời như NE555 kết hợp CD4017 hay 74LS93?
Các mạch logic rời thế hệ cũ (như khảo sát ở Chương II) đòi hỏi sử dụng rất nhiều IC rời (4514B, 4081, 4040, 4042, 7485, 4017...) dẫn đến kích thước bo mạch rất lớn, giá thành gia công cao, độ tin cậy thấp do nhiều mối nối hàn và đặc biệt là không thể hiển thị thời gian đếm lùi số. Khi muốn thay đổi chu kỳ sáng của đèn, người kỹ thuật bắt buộc phải thiết kế và câu dây lại toàn bộ mạch. Trong khi đó, giải pháp dùng vi điều khiển 8951 thu gọn kích thước mạch, tích hợp trực tiếp LED 7 đoạn hiển thị thời gian, có nhiều chế độ hoạt động và cho phép thay đổi chu kỳ đèn chỉ bằng cách chỉnh sửa phần mềm.

2. Cơ chế tạo khoảng trễ thời gian 1 giây (delay 1s) trong chương trình điều khiển 8951 được thiết kế như thế nào?
Chương trình sử dụng bộ định thời Timer 0 hoạt động ở Chế độ 1 (định thời 16-bit). Với thạch anh 12MHz, mỗi chu kỳ máy là 1µs. Tác giả nạp giá trị ban đầu cho các thanh ghi định thời là TH0 = 50H và TL0 = 9AH, tương ứng với việc tạo một khoảng trễ 50.000 chu kỳ máy (50ms) cho mỗi lần cờ tràn TF0 bật lên. Sau đó, thanh ghi R7 được nạp giá trị 20 và giảm dần sau mỗi lần Timer 0 đếm tràn. Khi R7 giảm về 0, chương trình tạo ra tổng thời gian trễ chính xác là $50\text{ms} \times 20 = 1000\text{ms} = 1\text{s}$.

3. Hệ thống xử lý các chế độ hoạt động (giao thông, cảnh báo, ưu tiên) thông qua khối điều khiển công tắc như thế nào?
Khối điều khiển gồm 3 công tắc SW1, SW2, SW3 nối vào các chân P2.0, P2.1, P2.2 của Port 2. Vi điều khiển đọc dữ liệu từ Port 2 để phân nhánh:

  • Khi $P2 = \text{0FFH}$ (cả 3 công tắc đều mở mức 1): Hệ thống thực thi chu trình điều khiển đèn giao thông tự động.
  • Khi $P2 = \text{0FEH}$ (SW1 đóng xuống mức 0): Hệ thống gọi chương trình con DBAO để chớp tắt 2 đèn vàng V1, V2.
  • Khi $P2 = \text{0FDH}$ (SW2 đóng xuống mức 0): Hệ thống gọi chương trình con UT1 để giữ sáng cố định Đèn Đỏ 1 và Đèn Xanh 2.
  • Khi $P2 = \text{0FBH}$ (SW3 đóng xuống mức 0): Hệ thống gọi chương trình con UT2 để giữ sáng cố định Đèn Đỏ 2 và Đèn Xanh 1.
    Các hàm kiểm tra trạng thái Port 2 (KTRA1, KTRA11, KTRA111) được lồng trực tiếp sau mỗi giây đếm lùi để đảm bảo hệ thống chuyển đổi chế độ ngay lập tức khi công tắc thay đổi.

4. Khối nguồn của mạch được thiết kế với những linh kiện nào và đóng vai trò gì?
Khối nguồn được thiết kế theo dạng ổn áp tuyến tính gồm: một máy biến áp hạ áp từ 220VAC xuống 6,3VAC, một bộ cầu chỉnh lưu diode 1A để biến đổi dòng xoay chiều thành một chiều, một tụ hóa lọc nguồn C1 ($220\mu\text{F}$) để chống nhiễu và san phẳng điện áp nhấp nhô, và một IC ổn áp 3 chân 7805. Khối nguồn có nhiệm vụ duy trì điện áp ngõ ra cố định ở mức +5VDC liên tục và ổn định, cung cấp cho vi điều khiển 8951, IC đệm 74LS244, dàn LED tín hiệu và LED 7 đoạn hoạt động tin cậy mà không bị sụt áp hay hỏng linh kiện logic.

5. Tác giả đề xuất giải pháp kỹ thuật nào để mạch có thể tự động chuyển chế độ làm việc theo thời gian trong ngày?
Tác giả đề xuất phương án mở rộng phần cứng bằng cách ghép nối thêm vi mạch đồng hồ thời gian thực (RTC) và bộ nhớ EPROM nạp chương trình giám sát thời gian. Khi đồng hồ thời gian thực chỉ trong khoảng từ 5h00 sáng đến 23h00 đêm, vi điều khiển sẽ kích hoạt chương trình điều khiển đèn giao thông tuần tự bình thường. Khi đồng hồ chuyển sang khoảng thời gian từ 23h00 đêm đến 5h00 sáng hôm sau, vi điều khiển sẽ tự động chuyển sang thực thi chương trình đèn vàng chớp tắt cảnh báo mà không cần sự can thiệp thủ công từ người quản lý.

Kết luận

Đồ án tốt nghiệp "Thiết kế và thi công mạch điều khiển đèn tín hiệu giao thông" của tác giả Hoàng Văn Công đã giải quyết thành công bài toán tự động hóa điều tiết giao thông tại ngã tư thông qua giải pháp vi điều khiển AT8951. Hệ thống vận hành chính xác các chức năng điều khiển đèn tín hiệu, hiển thị thời gian đếm lùi bằng LED 7 đoạn và chuyển đổi linh hoạt các trạng thái ưu tiên, cảnh báo. Công trình thể hiện quy trình thiết kế kỹ thuật hoàn chỉnh từ khảo sát mạch rời, tính toán phân khối phần cứng, lập trình hợp ngữ nhúng đến thi công và kiểm nghiệm thực tế, mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho việc nghiên cứu và phát triển các hệ thống nhúng điều khiển tự động.