CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MẠCH IN VÀ MẠCH IN TỐC ĐỘ CAO Mạch điện tử là thành phần quan trọng không thể thiếu trong các thiết bị sử dụng điện hiện nay. Phần lớn trong số đó là các bảng mạch in. Với bề dày lịch sử cùng sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, mạch in hiện đại đã có những bước tiến rất xa so với khởi thủy thô sơ của chúng.
Tuy nhiên, nguyên lý hoạt động và dẫn truyền của các bảng mạch in là không thay đổi. Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu một cách chuyên sâu về lịch sử ra đời và phát triển của mạch in, cấu trúc và nguyên lý dẫn truyền của chúng, đồng thời, chúng ta sẽ tìm hiểu về các loại bảng mạch in được sử dụng hiện nay. Cuối cùng là giới thiệu về bảng mạch in tốc độ cao, loại bảng mạch sẽ được tập trung nghiên cứu trong Luận văn này.1 Khái quát về mạch in 1.1 Khái niệm Bảng mạch in, bo mạch in, bản mạch in hay đôi khi được gọi một cách gắn gọn là mạch in (Tiếng Anh: Printed Circuit Board – PCB) là một dạng bảng mạch điện được chế tạo bằng phương pháp in ấn trên một tấm nền cách điện. Hình 1-1 Hình ảnh bảng mạch in sau chế tạo Trong Hình 1-1 đang mô tả một bảng mạch in sau chế tạo chưa được lắp ráp linh kiện.
Chúng ta có thể nhìn thấy các lỗ via, các lỗ chân linh kiện cắm, các pad để hàn linh kiện dán và các đường mạch in liên kết với nhau. Ngoài ra trên các PCB còn có thể 1 có thêm các đường mạch đóng vai trò như anten thu phát sóng, các kết cấu lắp ráp cơ khí như lỗ khoan, slot, mouse bit… Trong các thiết bị điện tử, chúng ta thường tìm thấy các bảng mạch in dưới dạng thành phẩm đã hoàn thiện các khâu lắp ráp. Chúng sẽ bao gồm tấm bảng mạch in (PCB) và các linh kiện đã được hàn gắn lên đó để thực hiện các yêu cầu chức năng. Hình 1-2 Hình ảnh mạch in sau hoàn thiện lắp ráp Hình 1-2 đang giới thiệu một sản phẩm bo mạch in đã được hàn gắn các linh kiện và có thể coi chúng như một sản phẩm điện tử hoàn thiện.
Chúng ta có thể quan sát thấy chúng gồm các cổng giao tiếp, các IC chức năng, các linh kiện cơ bản như tụ, trở, cầu chì, diode bán dẫn… 1.2 Cấu trúc cơ bản Để hiểu rõ hơn được cấu trúc cơ bản của một bảng mạch in, chúng ta có thể nhìn vào hình ảnh dưới đây: 2 Hình 1-3 Cấu trúc của bảng mạch in 1 lớp Trong Hình 1-3 đang giới thiệu cấu trúc cơ bản theo mặt cắt thẳng đứng của bảng mạch in một lớp, cấu tạo nên một bảng mạch in thường gồm 4 phần: Substrate: Chất nền hay lớp điện môi đóng vai trò là lớp cách điện cho bảng mạch. Vật liệu của chất nền cũng được coi như vật liệu tạo lên PCB. Đây là lớp có vai trò tạo sự ngăn cách giữa các lớp dẫn điện, đồng thời tạo độ cứng cũng như những tính chất đặc biệt của bảng mạch như chống cháy, chống nhiễu… Hai đại lượng đặc trưng cơ bản của tấm nền là hằng số điện môi 𝜀𝜀𝑟𝑟 (phụ thuộc vào bản chất vật liệu điện môi) và độ dày lớp điện môi H (phụ thuộc vào công nghệ chế tác). Copper: Lớp đồng.
Nằm ngay trên tấm nền là một lớp dẫn điện thường được làm từ đồng. Đây chính là lớp vật liệu thực hiện truyền dẫn tín hiệu của mạch điện. Trước khi chế tác, lớp đồng phủ kín toàn bộ bề mặt của lớp điện môi. Công việc của người thiết kế là xác định các vị trí đồng được giữ lại và các phần đồng bị loại bỏ thông qua quá trình thiết kế.
Thông thường, khi mạch điện của chúng ta không có yêu cầu đặc biệt về vấn đề công suất thì lớp đồng sẽ có độ dày là 1 oz. Nó cân bằng được giữa việc đảm bảo công suất cũng như khối lượng và giá thành. Để giải thích rõ hơn về đơn vị oz cho các nội dung phía sau: oz là đơn vị dùng để đo độ dài, độ dày và khác nhau với từng nguyên vật liệu do nó phụ thuộc vào khối lượng riêng của vật liệu đó. Một oz được hiểu là ounce trên foot vuông.
Khối lượng riêng của đồng là 8,9 g/cm3.48 cm → 1 28,35 foot2 = 918,911 cm2. Như vậy 1 OzCu = = 0,0035 cm = 35 𝜇𝜇m hay 1,37 mil. 918,911 Độ dày lớp đồng trên bảng mạch in được ký hiệu là T. 3 Solder mask hay còn gọi là mặt nạ hàn.
Solder mask có bản chất là một lớp sơn cách điện có chức năng bảo vệ cho lớp đồng có thể tránh được oxi hóa và ăn mòn. Bên cạnh đó, theo nghiên cứu thì lớp solder mask thường làm tăng trở kháng đặc tính của đường dây dẫn trên bề mặt hai lớp bên ngoài thêm 3 đến 4 Ohm. Đây là một yếu tố chúng ta cần cân nhắc trong thiết kế. Lớp sơn được các nhà sản xuất cung cấp có thể gồm các màu xanh lá, đen, xanh dương, trắng… Tuy nhiên màu xanh lá có chi phí thấp nhất và cũng phổ biến nhất, được xem như là màu sắc đặc trưng của PCB.
Silk screen: là lớp trên cùng của mạch in. Đây là lớp sơn màu trắng có tác dụng chú thích cho bảng mạch, nó có thể là tên của linh kiện, giá trị của linh kiện hoặc là các hướng dẫn cơ khí… Đối với các bảng mạch có nhiều hơn 2 lớp, người ta thường xây dựng chúng theo cấu trúc Foil Hình 1-4 Kiến trúc Foil trong xếp lớp mạch in Hình 1-4 mô tả một bảng mạch in 4 lớp được xây dựng dựa trên cấu trúc Foil. Với các bảng mạch có nhiều hơn 2 lớp thì các tấm nền không còn là duy nhất nữa. Các bảng mạch sẽ được ghép lại bởi các tấm Core (có bản chất là các bảng mạch hai lớp), phân tách giữa các tấm Core là các tấm PP.
Lớp Core hay còn gọi là vùng lõi, là chất điện môi mỏng (nhựa epoxy sợi thủy tinh đóng rắn) với lớp đồng được phủ ở cả hai mặt. Còn lớp prepreg là các tấm sợ thủy tinh mỏng được ngâm tẩm với nhựa epoxy chưa đóng rắn, nó sẽ cứng lại khi được ép và nung nóng trong quá trình chế tạo PCB. 4 Theo cấu trúc Foil thì ngay chính giữa của PCB là một tấm nền Core, sau đó là các tấm pre-preg và core đan xen lẫn nhau cho đến lớp ngoài cùng. Chi tiết về quy trình xếp lớp sẽ được trình bày kỹ hơn trong Chương 2: Quy trình sản xuất mạch in nhiều lớp 1.3 Nguyên lý hoạt động của PCB Nguyên lý hoạt động của một bảng mạch in thực chất là sự truyền dẫn tín hiệu điện thông qua lớp kim loại đồng phủ trên bề mặt và giữa các lớp với nhau thông qua các lỗ via.
Trên một lớp bất kì, tấm kim loại đồng liền mảnh ban đầu được thiết kế, định tuyến, chế tác để trở thành các đường mạch riêng rẽ, từ đó xác định được các vùng dẫn điện và cách điện. Đối với các mạch điện nhiều lớp thì sự truyền dẫn tín hiệu trên các lớp khác nhau được thực hiện thông qua các lỗ via. Lỗ via là thành phần quan trọng đối với các thiết kế PCB nhiều lớp. Bản chất chúng là các lỗ khoan hình trụ được mạ đồng dọc chiều cao lỗ và có liên kết đến các lớp tín hiệu mong muốn.
Hình 1-5 Các loại via phổ biến trong mạch in Trong Hình 1-5 giới thiệu các dạng via phổ biến được sử dụng trong thiết kế và sản xuất mạch in, chúng bao gồm: Through hole via hay via xuyên lỗ. Đây là dạng via phổ biến nhất trong thiết kế và chế tạo với giá thành rẻ và rất dễ gia công. Chúng có dạng một lỗ xuyên từ lớp trên 5 cùng (TOP) đến lớp dưới cùng (BOTTOM). Nhược điểm của chúng là gây tốn diện tích đối với các lớp không sử dụng đến tín hiệu này đồng thời gây ra hiện tượng cộng hưởng do Via stub.
Blind Via hay còn gọi là via mù, là một dạng via đặc biệt đi từ lớp ngoài cùng đến một số lớp trong (không tới lớp cuối cùng). Và vì chúng ta chỉ có thể nhìn thấy một đầu của nó mà không thấy đầu còn lại nên nó được gọi là Blind via. Đây là via có chi phí sản xuất đắt đỏ bởi việc tạo ra chúng không hề đơn giản. Người ta cần chế tác via với số lớp mà nó đi qua, rồi mới ép các lớp còn lại.
Ưu điểm của via mù là tiết kiệm diện tích bảng mạch do loại bỏ được các vị trí via không cần thiết, có thêm không gian để định tuyến đường mạch cũng như đảm bảo toàn vẹn tín hiệu hơn (nhờ giảm thiểu và loại bỏ Via stub). Buried Via cũng là dạng via đặc biệt, khó chế tác và có giá thành cao. Chúng không đi từ các lớp ngoài cùng vào mà chúng xuyên qua các lớp bên trong Micro via là một dạng via đặt biệt với đặc điểm là lỗ khoan vát nhỏ giúp tiết kiệm diện tích. Ngoài tác dụng kết nối giữa các đường dây ở các lớp khác nhau, lỗ via còn có một số chức năng khác như: - Kết nối các vùng GND ở các lớp khác nhau.
Chức năng này rất quan trọng để tất cả các vùng GND trên mạch đều được kết nối, tạo nên các mặt đất ổn định và liên tục - Via còn được dùng như các lỗ thông hơi giúp tản nhiệt tốt cho linh kiện dán ở mặt trên - Ngoài ra, đối với tín hiệu tốc độ cao thì Via còn có chức năng giảm điện cảm và điện dung ký sinh (Sử dụng hàng rào Via- Via fence là một cách phổ biến để giảm nhiễu xuyên kênh).4 Phân loại bảng mạch in Có nhiều tiêu chí để phân loại PCB, thông thường người ta phân loại chúng theo vật liệu tấm nền và theo số lớp dẫn điện.1 Phân loại theo vật liệu tấm nền Tấm nền là thành phần cách điện trên PCB, song chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất của bảng mạch. Tùy từng mục đích thiết kế khác nhau mà chúng ta lựa chọn loại vật liệu phù hợp. Dưới đây là 10 dạng bảng mạch được phân chia theo vật liệu tấm nền. Ceramic PCB- Mạch in trên nền sứ : Tuy có tên gọi là sứ song bản chất thực sự của loại vật liệu này có thể là nhôm oxit, nhôm nitrua, beri oxit cùng với cacbua silic và bo nitrua.
Một ưu điểm vượt trội của vật liệu ceramic so với FR4 truyền thống chính là khả năng dẫn nhiệt và tản nhiệt cực tốt của chúng.