ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay việc phát triển kinh tế là mục tiêu đặt lên hàng đầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới và nó càng quan trọng hơn đối với nước đang phát triển như Việt Nam. Việc thiết kế và cải tạo chất lượng đường xá giao thông nông thôn đã trở thành mục tiêu trong chiến lược phát triển nông thôn của Đảng và nhà nước. Điều đó phù hợp với xu hướng phát triển của các nước đi lên từ nông nghiệp như nước ta. Do nhu cầu giao thông cùng với sự gia tăng sản xuất và giao lưu xã hội, mật độ đường giao thông ngày càng cao.
Trong khi đó nước ta tỉ lệ dân số sống ở nông thôn chiếm 75% dân số cả nước, sự chênh lệch về các mặt đời sống, kinh tế, xã hội giữa nông thôn và thành thị còn rất cao. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực, phục vụ đời sống sản xuất, vận chuyển hành khách và trao đổi buôn bán giữa các vùng kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, một trong những giải pháp tích cực là xây dựng các tuyến đường giao thông nối liền nông thôn với thành thị và các vùng nông thôn với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa, kích thích sản xuất. Lục Ngạn là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Bắc Giang 40km về phía đông. Huyện có diện tích tự nhiên là 101.223,72 ha, với 29 xã và 1 thị trấn.
Theo quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội huyện Lục Ngạn, du lịch là hướng phát triển kinh tế mũi nhọn trong những năm tới, trong đó mũi nhọn kinh tế là khai thác du lịch sinh thái. Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái Cấm Sơn là dự án đầu tư du lịch trọng điểm của huyện và tỉnh. Hiện tại có một số dự án thành phần trong khu vực hồ đã và đang được triển khai xây dựng. Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của huyện đã phân huyện thành 3 vùng kinh tế đặc thù, khu du kịch sinh thái Cấm Sơn thuộc vùng kinh tế trung tâm, nơi tập trung 64% quỹ đất nông nghiệp của huyện và tập trung 69% dân số.
Về vị trí, hồ Cấm Sơn cách 9,5km so với trung tâm huyện lỵ về phía Tây Bắc. 1 Phát triển khu du lịch sinh thái hồ Cấm Sơn cho phép khai thác được tất cả các loại hình du lịch khác trên địa bàn tỉnh, có thể kết hợp tốt giữa du lịch sinh thái cảnh quan thiên nhiên với loại hình du lịch trang trại, du lịch văn hóa. Có thể khai thác giữa nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ trong ngành nông_lâm nghiệp. Tuyến đường Cấm Sơn là một tuyến đường trong hệ thống giao thông khu du lịch sinh thái Cấm Sơn, là cầu nối giữa hai trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa lớn của địa phương, đồng thời cũng là một công trình trong hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Giang.
Vì vậy việc xây dựng tuyến đường khu du lịch sinh thái Cấm Sơn là một yêu cầu cấp thiết. Được sự nhất trí của Bộ môn kĩ thuật xây dựng công trình _Khoa cơ điện và công trình tôi thực hiên đề tài :” Thiết kế kỹ thuật tuyến đƣờng khu du lịch sinh thái hồ Cấm Sơn _Huyện Lục Ngạn_Bắc Giang”. 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu nghiên cứu Giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc với thực tế, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế, hiểu biết thêm những kiến thức có liên quan đến chuyên môn, lập được sơ đồ thiết kế kỹ thuật một đoạn tuyến đường, đề xuất được phương pháp tổ chức thi công các hạng mục công trình trên tuyến.
Qua đó rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng cần thiết của một người cán bộ kỹ thuật trong tương lai. Đối tƣợng nghiên cứu Thiết kế kỹ thuật tuyến đường qua khu du lịch sinh thái hồ Cấm Sơn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Phƣơng pháp nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết đã học, áp dụng các công thức toán học, căn cứ vào các quy phạm thiết kế đường, các giáo trình, các tiêu chuẩn thiêt kế đường ô tô và các phần mềm tính toán hỗ trợ thiết kế đã lập ra được bộ hồ sơ thiết kế đường ô tô đầy đủ và theo đúng quy trình kỹ thuật.
Nội dung nghiên cứu - Tình hình chung khu vực xây dựng tuyến đường. - Thiết kế bình đồ tuyến đường. - Thiết kế trắc dọc trắc ngang nền đường. - Thiết kế công trình vượt dòng.
- Thiết kế áo đường. - Đề xuất giải pháp thi công. - Dự toán giá thành. Phạm vi nghiên cứu Do điều kiện thời gian cũng như kiến thức và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên tôi không thể đi sâu vào tính toán thiết kế từng chi tiết 3 cụ thể của tuyến đường.
Trong khóa luận này tôi chỉ tập trung nghiên cứu và đi sâu vào một số nội dung sau : - Tính toán, thiết kế : Bình đồ, trắc dọc, trắc ngang, nền đường, áo đường, công trình vượt dòng. Dự toán được kinh phí xây dựng đoạn đường từ Km 3 + 00 đến Km 4 + 187,26. 4 CHƢƠNG I : ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA KHU VỰC XÂY DỰNG TUYẾN ĐƢỜNG 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lí Huyện Lục Ngạn nằm trên trục quốc lộ 31, trung tâm huyện lỵ cách tỉnh Bắc Giang 40km về phía Đông bắc, cách thủ Đô Hà Nội 91km. Huyện Lục Ngạn có diện tích tự nhiên là 101.223,72ha, dân số là 185.506 người, mật độ dân số trung bình 180 người/km2. -Phía bắc giáp huyện Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn -Phía Nam và Tây giáp huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang -Phía Đông giáp huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang và huyện Lộc Bình của tỉnh Lạng Sơn. Vị trí địa lí xã Kiến Lao Xã Kiến Lao nằm ở phía Tây Bắc huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, cách thị trấn Chũ 10km, có diện tích tự nhiên la 5620ha.
Được chia làm 11 điểm dân cư, trong tổng số 10 thôn có vị trí địa lí cách xa huyện lỵ 10km. Có hệ thống giao thông nối các khu dân cư trong xã với nhau và các xã với nhau tương đối thuận tiện. Địa hình khá phức tạp gồm cả 3 vùng đất : cao, vừa và thấp. Đất đai thuộc loại đất bạc màu điển hình.
Sự phát triển kinh tế xã hội của xã cũng có nhiều thuận lợi tuy nhiên vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định. -Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn -Phía Tây giáp xã Đông Hưng Huyện Lục Nam -Phía Đông giáp xã Kiên Thành -Phía Đông Bắc giáp xã Sơn Hải -Phía Nam giáp xã Qúy Sơn. Điều kiện địa hình Huyện Lục Ngạn là 1 huyện miền núi bao bọc bởi hai dải núi Bảo Đài và Huyền Đinh, nên địa hình được chia thành 2 vùng rõ rệt : địa hình vùng 5 cao và địa hình vùng thấp. Xã Kiến Lao (nơi tuyến thiết kế đi qua) thuộc vùng đia hình thấp, độ cao trung bình từ 80-120m so với mặt nước biển.
Đất đai trong vùng phần lớn là đồi thoải, một số nơi bị xói mòn. Vì địa hình miền núi phức tạp nên đất đai xã Kiến Lao bị chia cắt bởi khe suối, đồi núi và những ruộng lúa, độ cao trung bình khoảng 100m nơi cao nhất khoảng 358,8m so với mực nước biển. Hướng nghiêng chính của địa hình theo hướng Tây – Đông, địa hình về phái Tây Nam, Tây Bắc và Bắc cao hơn địa hình ở phía Đông và Nam, thấp nhất là ở khu trung tâm xã. Hệ thống các đồi bao quanh có độ cao lớn nhất khoảng +135m trung bình +68m.
Độ dốc lớn nhất nằm trong phạm vi 30%-35%, độ dốc trung bình khoảng 12%. Khí hậu thủy văn Lục Ngạn nằm trọn trong vùng Đông Bắc Việt Nam nên chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa, trong đó có vùng khí hậu mang nhiều nét đặc trưng của khí hậu vùng miền núi, có khí hậu tương tực các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên.Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,5 độ và cao nhất vào tháng 6 khoảng 27,8 độ, tháng 1 và 2 nhiệt độ thấp nhất khoảng 18,8 độ. Lượng mưa trung bình hàng năm 1321mm lượng mưa cao nhất 1780mm, vào các tháng 6, 7 ,8 lượng mưa thấp nhất là 912mm, tháng có ngày mưa ít nhất là tháng 12 và 1. Độ ẩm trung bình la 81%, cao nhất là 85%, thấp nhất là 72%.
Lục Ngạn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, vào mùa đông tốc độ gió bình quân là 2,3m/s, mùa hạ có gió Đông Nam, Lục Ngạn là vùng ít chịu ảnh hưởng của bão. Tình hình địa chất Qua quá trình điều tra thăm dò địa chất (đào hố khoan thăm dò, qua các vết sạt lở) cho thấy địa chất khá tốt tương đối ổn định, tuy nhiên cũng có một số vị trí nền đất tự nhiên còn yếu, tuyến đường thiết kế đi qua cần phải có các giải pháp kĩ thuật để khắc phục tránh hiện tượng sụt lún. Tài nguyên thiên nhiên +) Tài nguyên đất: Lục Ngạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha trừ diện tích mặt nước ao hồ, sông suối, diện tích núi đá và một số diện tích khu dân cư còn lai diện tích được điều tra thổ nhưỡng là 94.961,64ha chiếm 93,76% diện tích đất tự nhiên. Theo kết quả điều tra gần đây thấy đất Lục Ngạn có 6 loại đất chính.
1) Đất phù sa sông suối 2) Đất bùn lầy 3) Đất feralit màu bùn vàng nhạt trên núi 4) Đất feralit trên núi cao 200-700m 5) Đất feralit điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi núi cao từ 250-300m 6) Đất lúa nước vùng đồi núi +) Tài nguyên nƣớc Tài nguyên nước của Lục Ngạn chủ yếu là nước mặt và nước ngầm. Nguồn nước mặt có sông Lục Nam chảy qua dài gần 60km, nước sông chảy quanh năm với lưu lượng khá lớn. Ngoài sông Lục Nam còn có rát nhiều sông suối nhỏ nằm rải rác ở các xã vùng núi cao, tạo ra nhiều hồ chứa nước nhỏ. Nguồn nước mặt đa dạng là một tài nguyên phong phú để phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp ở huyện.
Nguồn nước ngầm hiện tại chưa được khoan thăm dò để đánh giá trữ lượng nhưng qua khảo sát sơ bộ ở các giếng nước của dân đào ở một số vùng thấp trong huyện cho thấy giếng khoan sâu từ 20-25m thì xuất hiện nước ngầm, chất lượng khá tốt. Nếu tổ chức khoan thăm dò đánh giá trữ lượng thì có thể khai thác nước phục vụ sinh hoạt cho các điểm dân cư tập trung đông ở các thi trấn và các thị thứ. +)Tài nguyên khoáng sản: Lục Ngạn có một số khoáng sản quý như đồng, vàng, than…nhưng hàm lượng thấp khai thác kém hiệu quả.