Mở đầu Cho đến đầu thế kỷ 21 này, các dây chuyền công nghệ chế biến đã được hoàn thiện rất nhiều, và do đó cũng rất phức tạp, yêu cầu khống chế chặt chẽ nhiều yếu tố công nghệ như nhiệt độ, áp suất, lưu lượng,… để đảm bảo khả năng làm việc an toàn, hiệu quả. Các hệ thống điều khiển quá trình cũng ngày càng phát triển nhưng phần lớn vẫn được xây dựng dựa trên cơ sở các bộ điều khiển đơn giản như rơ le, PID,… Vì vậy, bên cạnh việc phát triển những cấu trúc điều khiển cao cấp dựa trên nền tảng phần cứng mạnh, các phương pháp thiết kế, chỉnh định các bộ điều khiển đơn giản dựa trên thiết bị phần cứng chi phí thấp, làm việc ổn định cũng liên tục được đề xuất. Vấn đề đặt ra khi thiết kế là phải làm sao để những bộ điều khiển này, vốn được xây dựng cho các vòng điều khiển đơn biến, thích ứng được với những hệ thống đa biến trong công nghiệp hiện đại. Bộ điều khiển PID là một ví dụ tiêu biểu.
Với ưu điểm đơn giản, dễ chỉnh định, làm việc ổn định và lịch sử thành công hơn 60 năm, bộ PID là một giải pháp phổ biến cho các hệ thống điều khiển quá trình. Tuy nhiên nếu so với hàng trăm phương pháp chỉnh định bộ PID đơn biến thì số phương pháp chỉnh định bộ PID đa biến đã được đề xuất ít hơn rất nhiều. Tài liệu tiếng Việt về vấn đề này và về thiết kế bộ điều khiển đa biến nói chung lại càng ít hơn. Ngoài ra, hệ thống điều khiển thu được từ mỗi phương pháp thiết kế thường chỉ được đánh giá qua các ví dụ minh hoạ bằng các chỉ số trên miền thời gian vốn không phản ánh đầy đủ bản chất hệ kín một cách tổng quát.
Để phần nào khắc phục những vấn đề trên, luận văn này được hoàn thành nhằm giới thiệu một số phương pháp thiết kế, chỉnh định bộ PID cho đối tượng đa biến cùng với một số công cụ phân tích, đánh giá hệ thống trước và sau khi thiết kế bộ điều khiển. Từ đó làm cơ sở 6 cho việc lựa chọn các phương pháp thiết kế phù hợp trong ứng dụng thực tế cũng như các hướng nghiên cứu về mặt lý thuyết sau này. Nội dung của luận văn được trình bày trong ba chương chính như sau: Chương 2: Giới thiệu một số vấn đề tiêu biểu trong phân tích hệ thống đa biến, khả năng điều khiển hệ thống qua việc phân tích biên độ và hướng các vectơ tín hiệu, điểm không, điểm cực của hệ thống và tương tác giữa các kênh. Mục đích của chương này là cung cấp các công cụ để đánh giá hệ thống khi chưa có bộ điều khiển (đánh giá độ khó của bài toán điều khiển) và khi đã có bộ điều khiển (đánh giá kết quả giải bài toán điều khiển) Chương 3: Trình bày phương pháp thiết kế bộ điều khiển tách kênh.
Giới thiệu, phân tích ưu nhược điểm một số phương pháp thiết kế bộ điều khiển PID cho đối tượng đa biến bao gồm các phương pháp đã được áp dụng thành công trong thực tế và các phương pháp mới được đề xuất gần đây. Chương 4: Phân tích và thiết kế bộ điều khiển PID đa biến cho mô hình đối tượng tháp chưng luyện. Mục đích của chương này là minh họa các phương pháp phân tích hệ thống và thiết kế bộ điều khiển đã trình bày trong hai chương trước đồng thời đánh giá kết quả thu được từ các phương pháp khác nhau qua đó thấy được ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng của từng phương pháp. Chương cuối cùng kết luận về kết quả thu được của luận văn và hướng phát triển tiếp theo.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn về thời gian và điều kiện làm việc nhưng luận văn này vẫn được hoàn thành nhờ sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong bộ môn Điều khiển tự động suốt hai năm qua, đặc biệt là PGS. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô. Phân tích hệ thống điều khiển đa biến 2. Sơ đồ hệ thống và chuẩn hoá tín hiệu Trong các ứng dụng thực tế, do tính chất của đối tượng điều khiển, thiết bị đo lường, chấp hành và yêu cầu công nghệ nên hệ thống điều khiển đa biến có nhiều cấu trúc khác nhau: truyền thẳng, phản hồi, tầng, bù nhiễu trực tiếp,… Những hệ thống lớn thường là sự kết hợp khá phức tạp các cấu trúc cơ bản này.
Trong đó cấu trúc phản hồi là yếu tố hầu như không thể thiếu do có khả năng không chế đủ chính xác đầu ra khi hệ thống có sai lệch mô hình và chịu tác động của nhiễu không đo được. Vì vậy, để đảm bảo khả năng áp dụng rộng rãi, các nội dung tiếp theo sẽ tập trung vào cấu trúc hệ thống điều khiển phản hồi một bậc tự do như trong sơ đồ sau: Hình 2-1: Sơ đồ hệ thống điều khiển phản hồi một bậc tự do Với các vectơ tín hiệu: 8 r : Tín hiệu chủ đạo/giá trị đặt y : Tín hiệu đầu ra ym : Giá trị đo tín hiệu đầu ra u : Tín hiệu điều khiển n : Nhiễu đo d : Nhiễu tải Lý thuyết điều khiển tự động thường sử dụng công cụ toán học để phân tích hệ thống, trong đó các tín hiệu vào/ra được coi là các hàm số toán học thuần tuý, ít quan tâm đến bản chất vật lý. Thực tế thì mỗi tín hiệu đều truyền tải một đại lượng vật lý nào đó như nhiệt độ, áp suất,… Với hệ thống đa biến các đại lượng này rất đa dạng, khác nhau về bản chất vật lý hay độ lớn. Điều này đôi khi gây khó khăn khi áp dụng các kết quả lý thuyết vào thực tiễn cũng như chuyển một vấn đề thực tế sang ngôn ngữ lý thuyết.
Để đơn giản hoá việc phân tích cũng như thiết kế, các tín hiệu trong hệ thống cần được chuẩn hoá về các đại lượng không thứ nguyên với biên độ thuận tiện cho việc so sánh đánh giá. Trong khuôn khổ luận văn này, hệ thống được phân tích đánh giá dựa trên mô hình tuyến tính hoá tại điểm làm việc. Do đó, để thuận tiện cho việc phân tích, các tín hiệu trong hệ thống được chuẩn hoá sao cho độ lớn không vượt quá 1 và bằng 0 tại điểm làm việc: Các tín hiệu trong hệ thống điều khiển phản hồi bao gồm: – Giá trị đặt: r̂ – Tín hiệu điều khiển: û – Tín hiệu đầu ra: ŷ – Nhiễu: d̂ – Sai lệch: ê 9 Tương ứng ký hiệu giá trị tại điểm làm việc và độ biến thiên cực đại của các tín hiệu này là: r0 , u0, y0, d0 , e0 và rmax, umax, ymax , dmax, emax (đối với sai lệch, độ biến thiên cực đại cho phép phụ thuộc yêu cầu điều khiển). Định nghĩa các ma trận tỷ lệ xích Du, D d, D e là các ma trận đường chéo với các thành phần trên đường chéo tương ứng bằng các thành phần của các vectơ umax, d max, emax.
Tín hiệu điều khiển và nhiễu được chuẩn hoá theo công thức: u = Du−1 ( uˆ − u0 ) (2.2) Với các ma trận tỷ lệ xích Du và Dd chọn như trên ta có giới hạn: u ∞ ≤1 (2.4) Giá trị đặt, đầu ra và sai lệch có cùng thứ nguyên nên cần chọn cùng một tỷ lệ xích cho cả ba đại lượng chuẩn hoá. Trong ba đại lượng này, sai lệch ê thể hiện chất lượng điều khiển nên ta chọn ma trận tỷ lệ xích là De : r = De−1 ( rˆ − r0 ) (2.7) Với tỷ lệ xích này ta có giới hạn: e ∞ ≤1 (2.8) Do ba đại lượng cùng sử dụng một tỷ lệ xích nên không thể giới hạn biên độ giá trị đặt và đại lượng đầu ra sau khi chuẩn hoá nhỏ hơn 1 như đối với các trường hợp trên. Như vậy một trong những yêu cầu của bài toán điều khiển sẽ là đảm bảo giới hạn (2.8) trong điều kiện có các giới hạn (2. Giả sử sau khi đã chuẩn hoá thu được mô hình đối tượng điều khiển như sau: 10 y = Gu + Gd d và e=r–y (2.9) Một cách trực quan có thể thấy ngay yêu cầu trên không thể thoả mãn nếu Gd quá lớn so với G.
Khi đó biên độ cho phép của tín hiệu không đủ lớn để đảm bảo khả năng kháng nhiễu. Ta sẽ phân tích vấn đề này kỹ hơn khi nói về biên độ và hệ số khuếch đại trong điều khiển hệ đa biến. Lựa chọn mô hình Có rất nhiều loại mô hình khác nhau để biểu diễn cùng một hệ thống: mô hình có tham số hoặc mô hình không tham số, mô hình tuyến tính hoặc phi tuyến, liên tục hoặc gián đoạn,… Trong một hệ thống điều khiển hiện đại vừa có những khâu mang bản chất liên tục như đối tượng điều khiển, vừa có những khâu mang bản chất gián đoạn như bộ điều khiển xây dựng trên nền vi xử lý. Vì vậy việc xem hệ thống là liên tục hay gián đoạn tuỳ thuộc quan điểm của người phân tích.
Đối với những hệ thống có động học rất nhanh, hằng số thời gian của đối tượng gần với chu kỳ trích mẫu như các hệ truyền động thì việc gián đoạn hoá tín hiệu có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất của toàn hệ. Khi đó những hệ thống này nên được biểu diễn bằng mô hình gián đoạn. Trong phạm vi luận văn này chủ yếu đề cập đến các quá trình trong công nghiệp chế biến với động học chậm hơn rất nhiều, việc xấp xỉ bộ điều khiển liên tục bằng các thiết bị gián đoạn là biện pháp thông dụng. Hai loại mô hình tuyến tính liên tục thường được sử dụng để biểu diễn hệ đa biến là mô hình không gian trạng thái và mô hình ma trận truyền đạt.
Trong mô hình không gian trạng thái, đối tượng tuyến tính được biểu diễn bằng hệ phương trình vi phân tuyến tính bậc nhất, tham số mô hình là các ma trận số thực. Các công cụ toán học sử dụng với mô hình này chủ yếu là đại số tuyến tính tương đối đơn giản. Hơn nữa do cấu trúc mô hình của hệ đa biến giống như của hệ đơn biến nên việc mở rộng các kết quả của hệ đơn biến khá 11 dễ dàng. Nhược điểm chính của loại mô hình này là kích thước các ma trận khá cồng kềnh, đặc biệt với những đối tượng có động học bậc cao thì số lượng biến trạng thái sẽ rất lớn.
Điều này không những dẫn đến khối lượng tính toán lớn mà còn gây khó khăn khi kiểm soát sai số tính toán.