CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Lý do chọn đề tài Hiện nay, ôtô là phương tiện giao thông rất cần thiết của con người. Theo thống kê trên thế giới, số lượng người tham gia giao thông bằng ôtô chiếm tỉ lệ rất cao so với các phương tiện giao thông khác. Đồng thời công nghiệp ôtô có những sự thay đổi lớn lao. Trên xe ôtô hiện nay đã có bước phát triển vượt bậc nhằm đáp ứng những nhu cầu trong quá trình kiểm tra phát hiện những hư hỏng được dễ dàng nhanh chóng và tăng tính an toàn trong quá trình kiểm tra hư hỏng trên xe ôtô.
Từ những loại xe được sản xuất với những hệ thống và trang thiết bị hiện đại trên ôtô lần lượt ra đời và được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Do đó, trong quá trình kiểm tra và sửa chữa trên động cơ ôtô ngày càng phức tạp và việc đánh giá tình trạng kỹ thuật cũng gặp nhiều khó khăn. Xuất phát từ vấn đề đã nêu trên và dưới sự hướng dẫn của Thầy TS. Nguyễn Bá Hải, nhóm cao học quyết định chọn đề tài ‘‘Thiết bị nội soi ôtô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh’’.
Đề tài này nghiên cứu và phát triển thiết bị nhằm giúp việc kiểm tra trực tiếp sâu bên trong các bề mặt chi tiết của động cơ ôtô có thể được thực hiện dễ dàng. Thiết bị có đầu dò gắn camera siêu nhỏ đưa vào sâu bên trong chi tiết máy, đồng thời nhìn qua màn hình thiết bị này có khả năng tự phát hiện những hư hỏng và báo mã lỗi chúng ta biết về tình trạng hư hỏng của chi tiết. Thiết bị nội soi hoạt động nhờ chương trình được lập trình trên phần mềm xử lý ảnh với LabVIEW. Đề tài thiết bị nội soi ôtô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh gồm một đầu dò có góc quay quét rộng, trên đó gắn một camera siêu nhỏ, độ nhạy cao.
Khi đưa đầu dò vào sâu bên trong chi tiết, hình ảnh được truyền về máy tính và được xử lý ảnh trên phần mềm LabVIEW. Thiết bị có khả năng tự phát hiện những hư hỏng và hiển thị mã lỗi trên giao diện phần mềm LabVIEW. Đồng thời nó cũng giúp cho kỹ thuật viên có thể nhận định, đánh Trang 1 Luan van giá rất rõ ràng các chi tiết máy về tình trạng hư hỏng của chi tiết. Thiết bị nội soi này cũng giúp cho chúng ta kiểm tra được các đường ống có đường kính nhỏ.
Khi có thiết bị nội soi chúng ta sẽ phát hiện được nhanh chóng, chính xác những hư hỏng và đề ra phương pháp sửa chữa phù hợp. Cắt giảm được chi phí sửa chữa, tránh gây thiệt hại do quá trình tháo lắp.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1.1 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và thiết kế ‘‘Thiết bị nội soi ô tô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh’’ thông qua thiết bị nội soi thực nghiệm đánh giá kết quả. Từ nhiệm vụ chính được đặt ra của đề tài là thiết bị thực nghiệm, nên nội dung nghiên cứu được thực hiện với các mục tiêu sau: Chọn phương án thiết kế khả thi và chế tạo nên sản phẩm hoàn chỉnh là một thiết bị nội soi ôtô nhằm mục đích phục vụ cho việc kiểm tra và phát hiện những hư hỏng dễ dàng và nhanh chóng. Kết hợp được tính thực tế và ưu điểm của thiết bị như thẩm mỹ và hiệu quả khi làm việc.
Thiết bị phải hoạt động tốt, thể hiện rõ chức năng khi làm việc và phục vụ tốt cho việc kiểm tra và phát hiện những hư hỏng. Tiến hành các thực nghiệm để nghiên cứu quá trình hoạt động của ‘‘Thiết bị nội soi ô tô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh’’ Nội dung của đề tài trình bày một cách có thệ thống về thiết bị nội soi như: Cơ sở lý thuyết, phương pháp điều khiển, cấu tạo và hoạt động của thiết bị… Nội dung đề tài Thiết bị nội soi ôtô là một đề tài rất gần gũi và thực tế, phù hợp với sinh viên, học viên nghành Cơ Khí Động Lực. Nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu đề tài còn rất mới mẻ cho nên đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các bạn sinh viên, học viên tham khảo cho việc chẩn đoán để đề ra phương pháp sửa chữa xe ôtô.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài thiết bị nội soi ôtô sẽ thực hiện thí nghiệm trên động cơ ôtô. Trong đề tài này tác giả ứng dụng công nghệ xử lý ảnh với LabVIEW, khảo sát đặc Trang 2 Luan van tính của ‘‘Thiết bị nội soi ô tô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh’’, sau đó tiến hành thực nghiệm trên động cơ ôtô hoặc trên các chi tiết máy.3 Đối tượng nghiên cứu - Thiết bị nội soi kết nối với máy tính, động cơ ôtô - Phần mềm LabVIEW và phần mềm xử lý ảnh 1.4 Điểm mới của đề tài Thiết bị nội soi ôtô có khả năng tự phát hiện những hư hỏng và hiển thị mã lỗi trên giao diện phần mềm LabVIEW.
Đồng thời nó cũng giúp cho kỹ thuật viên có thể nhận định, đánh giá rất rõ ràng về những hư hỏng của các chi tiết trên động cơ ôtô. Tác giả ứng dụng công nghệ xử lý ảnh với LabVIEW. Đây chính là điểm mới của đề tài đã nghiên cứu.5 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp thiết kế và chế tạo thiết bị nội soi ôtô Nghiên cứu thiết kế giao diện của chương trình phần mềm LabVIEW với xử lý ảnh Viết các chương trình hiển thị báo mã lỗi Thực nghiệm trên động cơ ôtô thật 1.6 Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu thiết kế thiết bị nội soi ôtô, hình ảnh thu thập được từ camera sẽ hiển thị và báo mã lỗi trên màn hình máy tính, ứng dụng phần mềm xử lý ảnh với LabVIEW và được thử nghiệm trên xe ôtô.7 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 1.1 Tình hình trong nước Theo tìm hiểu thông tin của tác giả, hiện nay ở nước ta vẫn chưa có ‘‘Thiết bị nội soi ôtô cầm tay ứng dụng công nghệ thu thập và xử lý ảnh’’. Các thiết bị nội soi ôtô được thiết kế và ứng dụng chủ yếu là hình ảnh được truyền trực tiếp từ camera về màn hình máy tính để giúp kỹ thuật viên quan sát và nhận định hư hỏng.
Trang 3 Luan van Một số đề tài nghiên cứu về thiết bị nội soi trong nước đã được công bố: Đề tài ‘‘Thiết bị nội soi ôtô phục vụ kiểm tra và sửa chữa’’ của hai sinh viên : Trần Trung Dũng và Nguyễn Hữu Liêm Chánh của trường ĐHSPKT- TP HCM ,tháng 07/ 2013. Đề tài này đã thực hiện được việc kiểm tracác bộ phận trong động cơ ôtô, kiểm tra các đường ống có đường kính nhỏ. Hạn chế của đề tài này là hình ảnh từ camera đưa về màn hình máy tính chưa được xử lý, chưa có khả năng tự phát hiện ra những hư hỏng của chi tiết máy và báo lỗi trên màn hình trong lúc kiểm tra. Các kết quả nghiên cứu trong nước về xử lý ảnh đã được công bố: “Nhận dạng mặt người trên Matlab” của Võ Hồng Hoan Trong luận văn tác giả đã sữ dụng thuật toán PCA để nhận dạng khuôn mặt, từ đó xây dựng chương trình tìm kiếm một bức ảnh có khuôn mặt một người trong tập ảnh cơ sở giống với khuôn mặt của người trong bức ảnh cần kiểm tra bằng ngôn ngữ Matlab.
“Nhận dạng mặt người dùng SVM và mạng nơron” của Nguyễn Thành Thái Ở đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu hai phân lớp ảnh SVM và mạng nơron để áp dụng cho bài toán nhận dạng mặt người. Từ đó, đưa ra một ứng dụng thực tế là xác định một đối tượng có phải là học sinh của trường THPT Nguyễn Hữu Cầu hay không, để minh họa cho tính khả thi của hai phương pháp nêu trên. “Thuật toán phát hiện chuyển động” của Đào Ngọc Anh Luận văn đã tìm hiểu các phương pháp mô hình hỗn hợp nền thích nghi, mô hình không tham số thích nghi, mô hình sử dụng từ điển (code-book) thích nghi thời gian thực. Giả lập chuyển động để tạo ra ảnh lối vào khi nghiên cứu các đặc tính cần đánh giá.
Làm chủ được thuật toán phát hiện chuyển động trên cơ sở sử dụng các phương pháp khác nhau để mô hình hóa. “ Nhận dạng khuôn mặt” của Mai Hữu Lợi Tác giả thực hiện mô phỏng hệ thống nhận dạng khuôn mặt sử dụng thuật toán PCA (Principal Component Analysis) để rút trích đặc trưng áp dụng cho quá trình nhận dạng khuôn mặt, từ đó xây dựng 2 chương trình: Chương trình nhận dạng gương mặt từ bộ dữ liệu ảnh tĩnh lấy từ ORL và chương trình nhận dạng trực tiếp từ webcam. Trang 4 Luan van 1.2 Tình hình nước ngoài Nội soi lần đầu tiên được mô tả bởi Hippocrates ở Hy Lạp (460-375 trước Công nguyên). Ông là người đầu tiên thực hiện việc tham chiếu đến một mỏ vịt trực tràng.
Đồng thời mỏ vịt đơn giản đầu tiên cho phụ khoa nội soi đã xuất hiện. Philipp Bozzini (1773-1809) phát triển một dây dẫn ánh sáng mà ông gọi là "Lichtleiter". Nó hướng ánh sáng vào các khoang bên trong của cơ thể và sau đó chuyển hướng đến mắt của người quan sát. Những phát minh Bozzini đã định hướng cho các nguyên tắc của nội soi.
Fisher (Giũa 1798-1850) mô tả nội soi để kiểm tra âm đạo, và ông đã điều chỉnh nó để kiểm tra bàng quang và niệu đạo. Năm 1853, Jean Antoine Desormeaux, một bác sĩ phẫu thuật Pháp, lần đầu tiên giới thiệu "Lichtleiter" của Bozzini cho bệnh nhân. Đối với nhiều người ông được coi là "cha đẻ của nội soi." Dụng cụ này có một hệ thống gương và ống kính, nguồn sáng là một ngọn lửa đèn. Lichtleiter được sử dụng chủ yếu cho các trường hợp tiết niệu.
Biến chứng chủ yếu của nó là gây bỏng cho bệnh nhân. Maximilian Nitze (1848-1906) là người đầu tiên tạo ra nguồn sáng cho thiết bị nội soi. Một lần nữa điều này chỉ được sử dụng cho các thủ tục tiết niệu. Trong năm 1883, Newman của Glasgow mô tả sử dụng một phiên bản thu nhỏ nguồn sáng trong một cystoscope.
George Kelling, một bác sĩ phẫu thuật từ Dresden mô tả kỹ thuật được sử dụng một cystoscope để kiểm tra ổ bụng của con chó là "coelioskope". Jacobaeus (ở Stockholm vào cuối năm 1910 và đầu năm 1911) sử dụng thuật ngữ "laparothorakoskopie" lần đầu tiên. Ông đã xuất bản báo cáo về phẫu thuật nội soi và nội soi lồng ngực ở người trong Münchener Medizinische Wochenschrift.