chương 1 đã giới thiệu tổng quan về sự cần thiết cũng như mục tiêu nghiên cứu, 5 chương còn lại của luận án được thiết kế như sau: Chương 2: Khung lý thuyết các yếu tố tác động đến tham nhũng; Chương 3: Khung lý thuyết tăng trưởng kinh tế; Chương 4: Mô hình và phương pháp nghiên cứu; Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương 2: Khung lý thuyết các yếu tố tác động đến tham nhũng. Khung khái niệm 1. Tổng quan thể chế 1.
Tổng quan tham nhũng 1. Lý thuyết các yếu tố tác động đến tham nhũng. Trong bài nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, Treisman (2000) đặt ra câu hỏi: “tại sao các giới chức tại một số quốc gia lạm dụng công quyền để nhằm tư lợi thường xuyên hơn và nhận tiền đút lót nhiều hơn so với giới chức ở các quốc gia khác?”. Câu trả lời là sự cân đối giữa chi phí kỳ vọng của hành vi tham nhũng bao gồm chi phí xã hội, chi phí tâm lý cũng như chi phí tài chính so với lợi ích kỳ vọng của họ.
Các nhà khoa học chính trị và kinh tế học cho rằng nhiều đặc tính của một quốc gia như là kinh tế, chính trị và hệ thống pháp luật có thể ảnh hưởng đến chi phí kỳ vọng và lợi ích kỳ vọng của giới chức. Chi phí kỳ vọng rõ ràng nhất chính là rủi ro bị phát hiện và bị phạt. Xác suất của việc bị phát hiện phụ thuộc phần lớn vào hiệu lực của hệ thống pháp luật của quốc gia. Hai khía cạnh có liên quan của hệ thống pháp luật được phân biệt.
Thứ nhất, hệ thống luật pháp khác biệt về mức độ bảo vệ và tạo ra cơ hội từ việc chấp nhận chủ sở hữu tài sản khu vực tư bị xâm hại bởi hành vi tham nhũng của giới chức. La Porta & ctg (1999) cho rằng hệ thống luật Ango-Saxon hay còn gọi là hệ thống Thông luật (common law) khác biệt theo chiều hướng này so với hệ thống luật dân sự (civil law). Trong khi luật Ango-Saxon được phát triển đầu tiên ở Anh được xem như là sự bảo vệ cho Nghị viện và chủ sở hữu nhằm chống lại sự xâm phạm của chế độ quốc chủ, hệ thống luật dân sự từ thời Napoleon, Bismarkian được phát triển như một công cụ cho chế độ quốc chủ nhằm xây dựng nhà nước và kiểm soát đời sống kinh tế (La Porta, 1999). Hệ thống Thông luật được xây dựng từ các tiền lệ được hình thành từ chính các quan tòa, thường là đồng minh với tầng lớp quý tộc nhiều tài sản nhằm chống lại nhà vua, trong khi đó hệ thống luật dân sự được thiết lập từ bộ luật được các nhà luật học soạn thảo theo mệnh lệnh của nhà vua.
Vì vậy, các tác giả đưa ra giả thuyết rằng sự bảo vệ tài sản lớn hơn trong hệ thống Thông luật cải thiện hiệu quả chính phủ ở nhiều khía cạnh bao gồm giảm nạn tham nhũng. Thứ hai, hệ thống luật pháp không chỉ khác biệt trong công thức và mục đích ban đầu của luật mà còn khác biệt về kỳ vọng và việc thực thi của nó. Vai trò xã hội của luật và tầm quan trọng của luật trong các trật tự xã hội cũng khác nhau giữa các quốc gia. Sự sẵn sàng của tòa án để theo đuổi các hồ sơ mà thậm chí kết quả của nó sẽ đe dọa hệ thống cấp bậc trong xã hội sẽ làm tăng cơ hội phát hiện các vụ án tham nhũng của giới chức.
Bên cạnh hệ thống pháp luật, rủi ro bị phát hiện tham nhũng cũng sẽ cao hơn ở các quốc gia dân chủ hơn và hệ thống chính trị mở (Diamond & Plattner, 1996). Sự tự do kết giao và tự do báo giới sẽ giúp tạo ra các nhóm quan tâm cộng đồng và những nhà báo gắn với sứ mệnh và quyền tố cáo việc lạm quyền. Sự ràng buộc công dân lớn hơn có thể dẫn đến việc giám sát chặt chẽ hơn (Putnam & ctg, 1994). Ở những quốc gia dân chủ, những người cạnh tranh cho các chức vụ trong giới chức thường có nhiều động cơ để phát hiện và tố giác các các hành vi lạm quyền của những người đương nhiệm tại các cuộc bỏ phiếu.
Bên cạnh xác suất bị phát hiện, giới chức luôn cân nhắc đến các hậu quả cho hành vi tham nhũng của mình để quyết định có thực hiện tham nhũng hay không. Các hình thức xử phạt đối với các hành vi phi pháp rõ ràng là có liên quan đến hành vi tham nhũng. Ngay khi bị phát hiện, giới chức tham nhũng gần như bị mất việc thì chắc chắn ảnh hưởng đến quyết định có thực hiện tham nhũng hay không (Van Rijckeghem & Weder, 1997). Tương tự, có nhiều yếu tố tác động đến lợi ích kỳ vọng từ hành vi tham nhũng mà ở đó giới chức sẽ cân đối để phù hợp với chi phí kỳ vọng.
Một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của lợi ích kỳ vọng thường được hiểu bằng tổng thu nhập thực mà giới chức nhận được. Đây được xem là lý do để mong đợi tham nhũng sẽ giảm ở các quốc gia phát triển. Acemoglu & Verdier (2000) cho rằng tiền lương mà giới chức nhận được ảnh hưởng lớn đến hành vi tham nhũng của họ.1) 𝑞 𝑞 1−𝑛 Trong đó, w là tiền lương, n là đại lượng đại diện cho phần doanh nghiệp trong nền kinh tế, biểu diễn nguồn thu thuế mà các doanh nghiệp lựa chọn công nghệ xấu phải trả và khoản trợ cấp mà doanh nghiệp lựa chọn công nghệ tốt nhận được là s , σ được thể hiện tiền đút lót (tham nhũng), e là chi phí cho việc lựa chọn công nghệ tốt của doanh nghiệp, và công chức tham nhũng có thể bị phát hiện với xác suất 𝑞. Nếu bất đẳng thức 2.1 bị vi phạm, tất cả công chức sẽ là tham nhũng.
Trong trường hợp này, các doanh nghiệp nhận 𝜎 ∗ (𝜏 + 𝑠) về lựa chọn công nghệ của họ, và sự can thiệp của chính phủ là hoàn toàn lãng phí. Như vậy, khi có sự can thiệp của chính phủ thì cơ chế chi trả tiền lương cho giới công chức phải thỏa mãn điều kiện (2.1) nếu không muốn các công chức tham nhũng. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Dựa trên cơ sở khung lý thuyết các yếu tố tác động, bài viết tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm tương ứng với 7 giả thuyết của nghiên cứu. Giả thuyết 1: quốc gia có mức thu nhập cao hơn sẽ làm giảm mức độ tham nhũng.
Giả thuyết 2: mức độ dân chủ có mối quan hệ nghịch với mức độ tham nhũng của quốc gia. Giả thiết 3: tự do kinh tế càng được mở rộng, mức độ tham nhũng càng giảm. Giả thuyết 4: tỷ lệ thất nghiệp được kỳ vọng có mối quan hệ thuận với mức độ tham nhũng. Giả thuyết 5: trình độ học vấn được cải thiện sẽ đẩy lùi được nạn tham nhũng của quốc gia.
Giả thuyết 6: lạm phát cao trong một quốc gia làm gia tăng mức độ tham nhũng. Giả thuyết 7: mức độ tham nhũng giảm ở các quốc gia có hệ thống pháp lý và tư pháp hiệu quả. Chương 3: Lý thuyết tác động tham nhũng đến tăng trưởng 3. Khái niệm tổng quan 3.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế 3. Tham nhũng và tăng trưởng Các mô hình tăng trưởng tân cổ điển như Solow (1956) và Swan (1956) không tính đến vai trò can thiệp của chính phủ nên không thể trực tiếp phân tích tác động của tham nhũng đến tăng trưởng kinh tế. Tốc độ tăng trưởng trong dài hạn hoàn toàn được quyết định bởi tốc độ tăng của các biến ngoại sinh như vốn vật chất, vốn con người và tiến bộ công nghệ. Theo thời gian, nhiều nhà kinh tế đã đưa vai trò của chính phủ vào các mô hình tăng trưởng tân cổ điển.
Điển hình là mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Barro (1990). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) giả định tổng sản phẩm bình quân đầu người dựa trên đầu tư khu vực tư nhân bình quân và chi tiêu chính phủ bình quân. Dựa trên lý thuyết tăng trưởng trường phái tân cổ điển, Barro (1990) đưa ra mô hình nghiên cứu xem xét một cách có hệ thống dựa trên các hành vi tối đa hoá lợi ích của các tác nhân trong nền kinh tế, mô hình tăng trưởng này vẫn được được sử dụng phổ biến khi các nhà kinh tế xem xét mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế. Barro (1990) giả định chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá và dịch vụ công có ảnh hưởng tích cực đến sản xuất của khu vực tư nhân.
Hàm tổng sản xuất trong nền kinh tế có dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas như sau: Y= A L1-α Kα G1-α (3.1) Ta có 0 < α <1 với L là lao động, K là tư bản, Y là sản lượng của nền kinh tế, G là tổng chi tiêu chính phủ và A là tiến trình cải tiến công nghệ. Để đơn giản, Barro (1990) giả định L (tổng lực lượng lao động trong nền kinh tế) là cố định. Với L cố định, phương trình (3.1) cho thấy rằng công nghệ sản xuất của nền kinh tế có hiệu suất không đổi theo quy mô đối với các đầu vào chi tiêu chính phủ và tư bản. Hàm tổng sản xuất (3.1) có thể được biểu diễn dưới dạng biến bình quân một lao động như sau: y = A kα G1-α (3.2) Với 𝑦 = 𝑌/𝐿 và k = K/ L lần lượt là sản lượng và tư bản bình quân một đơn vị lao động.
Barro (1990) giả định rằng chính phủ tài trợ cho chi tiêu của mình bằng cách áp dụng một mức thuế suất cố định τ. Điều này cũng hàm ý rằng chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng. Do vậy, τ cũng được hiểu như tỷ lệ chi tiêu công của chính phủ, ta có: τ Ly = G (0<τ<1) (3.3) Kết hợp với (3.4) Do tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu chính phủ cấu thành nên tổng thu nhập trong nền kinh tế nên phương trình tích luỹ cơ bản có thể được viết như sau: 𝑘̇ = s (1- τ) y – δk (3.5) Trong đó, δ là tỉ lệ hao mòn của tư bản và s là tỉ lệ tiết kiệm cố định của khu vực tư nhân. Chia cả hai vế phương trình (3.5) cho k và kết hợp với (3.4) chúng ta có thể thu được tốc độ tăng trưởng của sản lượng Yy, như sau: Yy = α [s (1- τ) ( τAL)(1-α)/α + δ] (3.