phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại. 6 Chƣơng 2: Thực trạng thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á – Trung tâm kinh doanh Hội sở. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện thẩm định tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á – Trung tâm kinh doanh Hội sở. 7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tổng quan tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng đƣợc định ngh a là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán (Hồ Diệu 2003). Hoạt động tín dụng đƣợc xem là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, thƣờng đối với hầu hết các ngân hàng, dƣ nợ tín dụng chiếm đến hơn ½ tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng từ ½ đến hơn 70% tổng thu nhập của ngân hàng. Vì tín dụng là khoản mục sinh lợi chủ yếu trong hoạt động ngân hàng nên đây cũng chính là khoản mục rủi ro chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại (Lê Văn Tề, 2009). Theo đó, tín dụng ngân hàng có những đặc điểm nhƣ dựa trên cơ sở lòng tin, là sự chuyển nhƣợng một tài sản có thời hạn hay có tính hoàn trả, dựa trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải trả lãi và cam kết hoàn trả vô điều kiện và là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng.
Tín dụng KHCN tại NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai đối tƣợng: ngân hàng và KHCN của ngân hàng. Mối quan hệ này đƣợc công nhận dựa trên hợp đồng tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển giao một lƣợng tiền tệ nhất định cho KHCN đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời cam kết hoàn trả lại theo thời gian đã thỏa thuận. Khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại là toàn bộ các cá thể trong xã hội có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Năng lực pháp luật dân sự là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có ngh a vụ dân sự, mọi cá nhân đều có năng 8 lực pháp luật dân sự khác nhau, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi cá nhân đó mới sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết đi, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế trừ một số trƣờng hợp do pháp luật quy định (cá nhân bị truy nã, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự…).
Khách hàng cá nhân là đối tƣợng vô c ng đa dạng, tạo nên một thị trƣờng đầy tiềm năng và “màu mỡ” cho các ngân hàng. Đây là một nguồn khách hàng cực kỳ quan trọng và chiếm tỷ lệ lớn trong các hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, KHCN luôn là những vị khách “khó chiều” khi những thông tin tài chính và phi tài chính của họ rất khó xác định một cách chính xác vì có những nguồn thu ổn định có cơ sở để xác định, nhƣng cũng có những nguồn thu nhập không ổn định và không có cơ sở để xác định. Bên cạnh đó, họ còn rất hay thay đổi nơi cƣ trú, địa bàn hoạt động và nghề nghiệp.
Một điểm quan trọng làm nên sự khác biệt của khách hàng cá nhân là đối tƣợng này phải chịu trách nhiệm dân sự vô hạn bằng toàn bộ tài sản của chính mình. Chính điều này, là một trở ngại lớn khiến nhóm này khá e dè với các sản phẩm tín dụng của ngân hàng hơn là khách hàng cá nhân. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân Ngoài những đặc điểm chung của tín dụng thì tín dụng KHCN mang những nét khác biệt so với các loại hình tín dụng doanh nghiệp nhƣ sau: Thứ nhất, quy mô các món vay thƣờng nhỏ, nhƣng số lƣợng các món vay lại lớn, mục đích vay của KHCN chủ yếu nhƣ sau: - Bổ sung vốn kinh doanh. Thƣờng các hoạt động sản xuất kinh doanh này đều không có quy mô lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tƣơng đối nên chỉ bổ sung phần thiếu tƣơng đối nhỏ.
- Phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống nhƣ mua nhà, xe, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Đây đều là những khoản vay nhỏ lẻ tuy nhiên do đối tƣợng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập cao, thu nhập trung bình và kể cả ngƣời có thu nhập thấp nên nhu cầu tín dụng khá đa dạng và phong phú. 9 Thứ hai, tín dụng KHCN gây tốn kém nhiều chi phí: do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lƣợng nhiều và phân tán rộng nên sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác nhƣ là mở rộng hệ thống mạng lƣới, quảng cáo, tiếp thị tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tƣợng KHCN ở từng địa bàn, khu vực, phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ cũng nhƣ các chi phí liên quan nhƣ: chi phí quản lý, văn ph ng phẩm, điện, nƣớc, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD… Vì vậy mà lãi suất của tín dụng KHCN thƣờng cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp.
Đối với các khoản vay cá nhân, do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thƣờng không đầy đủ và khó thu thập nên ngân hàng thƣờng tốn nhiều chi phí cho việc xác định thẩm định và xét duyệt vay. Thứ ba, tín dụng KHCN rủi ro cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Ngoài những lý do chung của tín dụng ngân hàng thì các khoản vay cá nhân còn có những rủi ro xuất phát từ bản thân khách hàng nhƣ điều kiện tài chính của cá nhân hay hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi rất nhanh do bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp hay các bi kịch gia đình. Thứ tƣ, chất lƣợng thông tin tài chính của khách hàng vay thƣờng không cao.
Khi thẩm định cho vay thì thông tin này là một yếu tố cực kỳ quan trọng để ngân hàng đƣa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và TSĐB. Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tƣơng đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin đƣợc công khai nhƣ: báo cáo tài chính, thông tin XHTD, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác… Ngƣợc lại, đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thƣờng khó đầy đủ, rõ ràng và chính xác dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Thứ năm, KHCN chịu trách nhiệm vô hạn trên số tiền vay: với khách hàng doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tƣ nhân) khi xảy ra các biến cố không mong muốn nhƣ phá sản, giải thể thì họ chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trên vốn điều lệ đã đăng 10 ký trƣớc đó. Điều này dẫn đến tình trạng là ngân hàng có thể sẽ không thu đƣợc nợ của mình nếu nguồn vốn của doanh nghiệp không đủ để trả nợ.
Ngƣợc lại, trong trƣờng hợp xảy ra biến cố, KHCN phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các chủ nợ nói chung và ngân hàng nói riêng. Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân Phân loại tín dụng KHCN có rất nhiều cách dựa vào các căn cứ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu, tuy nhiên ngƣời ta thƣờng phân loại theo một số tiêu thức sau: - Phân loại theo phƣơng thức cho vay: + Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay mà mỗi một lần vay vốn, khách hàng và ngân hàng phải hoàn tất thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Theo đó, mỗi một hợp đồng tín dụng có thể giải ngân một hoặc nhiều lần, tùy vào nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng; tuy nhiên, tổng số tiền trên giấy nhận nợ không vƣợt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng. Hình thức tín dụng này áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn một lần duy nhất, hoặc các khách hàng có nhu cầu vay vốn không thƣờng xuyên.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với những khách hàng có nhu cầu vay vốn thƣờng xuyên hoặc phụ thuộc nhiều vào quá trình sản xuất kinh doanh thì với hình thức cho vay từng lần sẽ không mang lại hiệu quả cao do mất quá nhiều thời gian cho các thủ tục vay vốn và ký hợp đồng tín dụng. Trong trƣờng hợp này, cho vay theo hạn mức tín dụng, sẽ là một lựa chọn sáng suốt để gia tăng sự chủ động và linh hoạt trong nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng. Với hình thức này, ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng tùy thuộc vào mức thu nhập hoặc chu kỳ sản xuất kinh doanh và đƣợc duy trì trong một thời gian nhất định. Trong thời gian này, khách hàng đƣợc chủ động rút vốn trong hạn mức cho phép mà không bị giới hạn về tổng số tiền đã đƣợc giải ngân trƣớc đó.
- Phân loại theo thời gian: + Tín dụng KHCN ngắn hạn: là những khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trong vòng 12 tháng trở xuống. Mục đích chủ yếu của khoản 11 tín dụng này là bổ sung nguồn vốn thiếu hụt của các hộ kinh doanh hoặc những nhu cầu tiêu dùng có thời gian ngắn hạn. + Tín dụng KHCN trung hạn: là những khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng có thời hạn trên 12 tháng cho đến 60 tháng (5 năm). Mục đích chủ yếu của khoản vay này là để mua sắm các tài sản cố định, sửa chữa nhà, mua phƣơng tiện vận tải.
+ Tín dụng KHCN dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn trên 60 tháng (5 năm).