Chương 1 trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ từ các nhân tố vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu tại các nước mới nổi. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, trong đó nêu rõ mẫu dữ liệu, mô hình giả định và các giả thiết nghiên cứu. Chương 4 trình bày đặc điểm thị trường, biến động giá của các TTCK mới nổi này trong giai đoạn nghiên cứu và cung cấp kết quả hồi quy cùng kiểm định giả thiết.
Chương 5 trình bày kết luận của bài nghiên cứu. -5- 123doc CHƢƠNG 2 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NHÂN TÔ VĨ MÔ LÊN TỶ SUẤT SINH LỢI CỔ PHIẾU TẠI CÁC TTCK MỚI Al-Sharkas (2004) trong bài nghiên cứu “The Dynamic Relationship Between Macroeconomic Factors and the Jordanian stock market”, với mục tiêu xem xét mối quan hệ dài hạn giữa giá cổ phần và các biến số vĩ mô trên TTCK Jordan. Biến phụ thuộc là chỉ số TTCK Amman (Jordan) và các biến vĩ mô được sử dụng bao gồm chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền M2, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất tín phiếu kho bạc. Các dữ liệu được thu thập hàng tháng trong giai đoạn từ tháng 03/1980 đến tháng 12/2003.
Thông qua mô hình VECM, kết quả cho thấy sự gia tăng lạm phát và lãi suất làm giảm đáng kể giá cổ phần. Trong khi, sự gia tăng chỉ số sản xuất công nghiệp, cung tiền làm gia tăng đáng kể trong giá cổ phần. Esen Erdogan và Umit Ozlale (2005) trong bài nghiên cứu “Effect Of Macroeconomic Dynamics On Stock Return: The Case Of The Turkish Stock Exchange Market”, với mục tiêu phân tích những ảnh hưởng của các biến vĩ mô lên TTCK Thổ Nhĩ Kỳ. Biến phụ thuộc là chỉ số chứng khoán ISE, trong khi các biến đôc lập bao gồm cung tiền M1, tỷ giá hối đoái danh nghĩa, chỉ số sản xuất công nghiệp, lãi suất được cụ thể hóa hơn gồm lãi suất thị trường thứ cấp và lãi suất liên ngân hàng.
Dữ liệu được thu thập hàng tuần trong giai đoạn từ ngày 28/06/1991 đến 24/03/2000. Đầu tiên, thông qua thống kê mô tả cho thấy sự phá giá đồng nội tệ dẫn đến giảm giá cổ phần trước năm 1994 thì sau năm 1994, sự phá giảm đã làm gia tăng trong giá cổ phần. Cung tiền không có ảnh hưởng đến giá cổ phần. Sự gia tăng chỉ số sản xuất công nghiệp làm gia tăng giá cổ phần, ngoại trừ giai đoạn 1994 - 1997.
Lãi suất gia tăng từng góp phần làm gia tăng giá cổ phần trước khủng hoảng năm 1994 nhưng đã không tồn tại trong giai đoạn sau đó. Sự gia tăng trong lãi suất liên ngân hàng có tác động làm giảm giá cổ phần, ngoại trừ năm 1994. Thứ hai, thông qua mô hình GARCH với đặc điểm cho phép -6- 123doc phương sai thay đổi, được xem như một hàm của các sai số quá khứ và giá trị có độ trễ của phương sai có điều kiện. Kết quả cho thấy các biến vĩ mô này có thể giải thích hiệu quả tỷ suất sinh lợi cổ phiếu với R2 hiệu chỉnh khá cao 55%.
Yusof và Razali (2006) trong bài nghiên cứu “Macroeconomic Variables and Stock Returns in the Post 1997 Financial Crisis: An Application of the ARDL Model”, với mục tiêu khám phá mức độ mà các biến kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến hành vi giá cổ phần của TTCK Malaysia trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính 1997. Biến phụ thuộc là chỉ số Kuala Lumpur (KLCI), trong khi các biến độc lập là cung tiền M3, chỉ số sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER), lãi suất tín phiếu kho bạc và bổ sung thêm biến dự trữ ngoại hối. Dữ liệu được thu thập trên cơ sở hàng tháng từ tháng 05/1995 đến tháng 02/2006. Bài nghiên cứu thực hiện hồi quy lần lượt theo 2 dạng khác nhau.
Dạng 1 là từ biến cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, dự trữ ngoại hối đến KLCI và dạng 2 là từ lãi suất tín phiếu kho bạc, chỉ số sản xuất công nghiệp, dự trữ ngoại hối đến KLCI. Đầu tiên, thông qua kiểm định đồng liên kết, kết quả cho thấy sự gia tăng trong cung tiền và dự trữ ngoại hối sẽ làm tăng đáng kể trong chỉ số KLCI. Sự gia tăng trong lãi suất làm giảm chỉ số KLCI nhưng không có ý nghĩa thống kê. Sự gia tăng tỷ giá hối đoái làm giảm đáng kể chỉ số KLCI tại dạng 1, nhưng sự gia tăng tỷ giá hối đoái làm giảm chỉ số KLCI và không có ý nghĩa thống kê được tìm thấy tại dạng 2.
Sự gia tăng trong chỉ số sản xuất công nghiệp sẽ làm giảm chỉ số KLCI nhưng không có ý nghĩa thống kê tại dạng 1, nhưng lại làm tăng đáng kể chỉ số KLCI khi hồi quy theo dạng 2. Thứ hai, thông qua mô hình phân phối có độ trễ tự hồi quy (ARDL), kết quả cho thấy hệ số sửa lỗi mang dấu âm và có ý nghĩa cao đối với 2 dạng. Tốc độ điều chỉnh ở 2 dạng là khá nhanh từ 26 - 65% /tháng. Sức giải thích của mô hình thông qua R2 hiệu chỉnh là từ 16 - 51%.
Basher và Sadorsky (2006) trong bài nghiên cứu “Oil price risk and emerging stock markets”, với mục tiêu nghiên cứu tác động của thay đổi giá dầu trên một số lượng lớn các tỷ suất sinh lợi của TTCK mới nổi. Đây là một trong những nghiên cứu -7- 123doc toàn diện đầu tiên xem xét về tác động của rủi ro về giá dầu trên thị trường chứng khoán mới nổi. Biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi vượt trội, được định nghĩa là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi của chỉ số cổ phiếu thông thường trừ lãi kép liên tục hàng ngày từ T-bill Mỹ 3 tháng của 21 TTCK mới nổi gồm Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Jordan, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Pakistan, Peru, Philippines, Ba Lan, Nam Phi, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Venezuela. Biến độc lập là tỷ suất sinh lợi của giá dầu, tỷ suất sinh lợi của tỷ giá hối đoái, tỷ suất sinh lợi vượt trội của chỉ số TTCK thế giới MSCI.
Dữ liệu được thu thập hàng ngày từ ngày 31/12/1992 đến ngày 31/10/2005. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp OLS dữ liệu chéo với 6 mô hình không điều kiện và 6 mô hình có điều kiện. Điều kiện ở đây được hiểu là thêm các biến giả cho các giá trị của biến. Kết quả cho thấy sự gia tăng giá dầu làm gia tăng tỷ suất sinh lợi cổ phiếu đáng kể tại 5 trong 6 mô hình không điều kiện.
Đối với 6 mô hình có điều kiện, sự gia tăng giá dầu làm gia tăng đáng kể tỷ suất sinh lợi cổ phiếu chỉ trong TTCK giá lên, trong khi ảnh hưởng tiêu cực và không có ý nghĩa thống kê của sự gia tăng giá dầu lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu khi TTCK giảm giá được tìm thấy tại 5 trong 6 mô hình. Yusof và Majid (2007) trong bài nghiên cứu “Stock Market Volatility Transmission in Malaysia: Islamic Versus Conventional Stock Market”, với mục tiêu xem xét mức độ biến động của thị trường chứng khoán thông thường và Hồi giáo ở Malaysia từ những biến động có điều kiện của chính sách tiền tệ. Các biến phụ thuộc là chỉ số Kuala Lumpur (KLCI) và chỉ số Rashid Hussain Berhad Hồi giáo (RHBII), trong khi các biến độc lập là cung tiền hẹp (M1), cung tiền mở rộng (M2), lãi suất tín phiếu kho bạc, tỷ giá hối đoái và chỉ số sản xuất công nghiệp được thu thập hàng tháng từ tháng 01/1992 đến tháng 12/2000. Nghiên cứu thực hiện thông qua mô hình VAR, thực hiện lần lượt trên 2 TTCK thông thường với Hồi Giáo và với 2 dạng của cung tiền (M1, M2).
Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của các biến vĩ mô lên 2 TTCK này là khá tương đồng. Sự gia tăng cung tiền M1 và chỉ số sản xuất công nghiệp làm giảm -8- 123doc đáng kể chỉ số KLCI. Sự gia tăng trong tỷ giá hối đoái và lãi suất làm gia tăng đáng kể chỉ số KLCI. Trong khi, dự trữ ngoại hối và cung tiền M2 không có ảnh hưởng đáng kể lên chỉ số KLCI.
Tuy nhiên, sức giải thích của mô hình khá thấp chỉ từ 14. Các biến phụ thuộc là 4 chỉ số chứng khoán tại 4 TTCK, trong khi 2 biến kinh tế vĩ mô gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa và giá dầu. Dữ liệu cho các biến được thu thập trên cơ sở hàng tháng từ tháng 03/1999 đến tháng 06/2006. Bằng cách hồi quy từ mô hình ARIMA Box - Jenkins tại từng nước, kết quả cho thấy không tồn tại mối quan hệ đáng kể giữa tỷ giá hối đoái, giá dầu lên chỉ số giá cổ phiếu tại các nước này.
Tuy nhiên, sức giải thích trong mô hình cho các nước này là khá thấp. Abdul Rahman và Hanim Tafri (2009) trong bài nghiên cứu “Macroeconomic determinants of Malaysia stock market”, với mục tiêu nghiên cứu sự ảnh hưởng giữa các biến vĩ mô và giá cổ phiếu tại Malaysia thông qua mô hình VAR. Biến phụ thuộc là chỉ số Kuala Lumpur (KLCI), trong khi các biến độc lập là chỉ số sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái thực, cung tiền M2, dự trữ ngoại hối, lãi suất T-bill 3 tháng được thu thập hàng tháng từ tháng 01/1986 đến tháng 03/2008. Kết quả chỉ ra rằng sự gia tăng trong lãi suất, cung tiền và tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm chỉ số KLCI.
Trong khi, sự gia tăng trong dự trữ ngoại hối và sản xuất công nghiệp làm gia tăng chỉ số KLCI. Tất cả các hệ số đều có ý nghĩa, ngoại trừ biến lãi suất. Jaafar Pyeman và Ismail Ahmad (2009) trong bài nghiên cứu “The Kuala Lumpur stock market and economic factors: A generalto- specific error correction modeling test”, với mục tiêu nghiên cứu mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa các chỉ số lĩnh vực cụ thể trên TTCK Malaysia và các biến kinh tế vĩ mô. Các lĩnh vực được -9- 123doc đưa vào hồi quy gồm ngành xây dựng, nông nghiệp, sản phẩm tiêu dùng, tài chính, sản phẩm công nghiệp, khai thác khoáng sản, khách sạn, bất động sản, thương mại - dịch vụ.
Các biến độc lập gồm GDP, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất trái phiếu chính phủ, cung tiền M1, quyền rút vốn đặc biệt, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được thu thập hàng tháng từ tháng 01/1993 đến tháng 12/2006. Kiểm định nhân quả Granger được thực hiện nhằm đưa ra mối tương quan ngắn hạn giữa các chỉ số ngành và các nhân tố vĩ mô. Kết quả cho thấy sự gia tăng trong các biến vĩ mô đều làm gia tăng trong chỉ số chứng khoán.