Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở lý luận: Một số lý thuyết xã hội học đã được vận dụng dé xem xét, giải thích các van dé trong dé tài nghiên cứu: 1. Lý thuyết hành động xã hội Theo Max Weber, hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định. Weber nhân mạnh đến động cơ bên trong của chủ thể như nguyên nhân của hành động.
Trong hành động xã hội, bao giờ cũng phải có sự tham gia của yếu tố ý thức mặc dù có thé ở những mức độ khác nhau. Ông gọi đó là ý nghĩa chủ quan và sự định hướng mục đích của hành động. Hành động xã hội luôn gan với tinh tích cực cá nhân. Tinh tích cực nay lại bị quy định bởi hàng loạt các yêu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thé hành động.
Tat cả các yếu tố và quá trình đó là phương thức tồn tại của chủ thể. Còn chủ thể trong hành động xã hội có thể là các cá nhân, nhóm, cộng đồng hay toàn xã hội. Tuy nhiên, không phải hành động nào cũng là hành động xã hội. Những hành động chỉ nhằm đến các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác thì cũng không được coi là hành động xã hội.
Ví dụ: hành động của dam đông xúm lại quanh một vụ tai nạn vì thay tò mò hoặc thấy có nhiều người xúm lại không được coi là hành động xã hội, nhưng hành động vây quanh vụ tai nan dé bao vệ hiện trường, so cứu tai nạn cho nạn nhân được coi là hành động xã hội. Hành động xã hội được thực hiện trong một hoàn cảnh, một môi trường cụ thể, có nghĩa là nó phải được đặt trong một không gian, thời gian, một bối cảnh xã hội nhất định có tác động, ảnh hưởng tới hành động đó. Một hành động mang 20 ý nghĩa PCTNTT tại gia đình là hành động xã hội vì nó chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế- xã hội, các điều kiện vật chat, tinh thần đối với chủ thể hành động. Hành động xã hội được phân theo các loại sau: e Hanh động duy lí - công cụ: hành động được thực hiện với sự tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả nhất.
e Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích duy lý). e Hành động duy cảm: hành động do các trạng thái, xúc cảm hoặc tình cam bột phát gây ra, không có sự cân nhắc, xem xét mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động. e Hành động duy lý truyền thống: hành động tuân thủ những thói quen, nghỉ lễ, phong tục, tập quán được truyền lại từ đời này sang đời khác. Ly thuyét tương tác xã hội Tương tác xã hội được coi là quá trình hành động và hành động đáp lại của một hành động của một chủ thể này với một chủ thé khác.
Các nhà xã hội học thường nghiên cứu tương tác xã hội ở cấp độ vi mô và vĩ mô. Nghiên cứu ở cấp độ vi mô là nghiên cứu ở cấp độ tương tác nhỏ nhất. Còn nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô là nghiên cứ về sự tương tác của các cơ cấu xã hội, các hệ thống xã hội hay giữa các thiết chế xã hội với nhau như chính trị, tôn giáo, nghệ thuật,. Như vậy, ta cần phải hiểu tương tác xã hội theo nghĩa rộng: tương tác không đơn thuần chỉ là hành động và phản ứng.
Đó là hình thức thông tin và giao tiếp của ít nhất hai chủ thê hành động. Trong quá trình này, sự tác động qua lại 21 của các chủ thé sẽ được thực hiện, đồng thời diễn ra sự thích ứng của một hành động này với một hành động khác. Qua đó, họ đạt được sự hiểu biết lẫn nhau cả về tình huống và ý nghĩa của hành động. Ví dụ: trong nghiên cứu này, sự tương tác xã hội diễn ra giữa hai chủ thể: truyền thông viên và đại diện hộ gia đình.
Thông qua quá trình này, truyền thông viên truyền đạt các thông tin, kiến thức và hướng dẫn các biện pháp thực hiện PCTNTT và SCC. Ngược lại, đại diện hộ gia đình cũng tiếp nhận và phản hồi lại các thông tin trên. Qua đó, cả hai chủ thê đạt đến một sự hiểu biết và thống nhất chung về phương thức hành động PCTNTT và SCC tại gia đình và cộng đồng. Cả hai chủ thể hành động trong tương tác đều chịu ảnh hưởng của các giá trị, chuẩn mực xã hội nhưng đồng thời các chủ thé này thường chịu ảnh hưởng của các tiêu văn hoá, thậm chí phản văn hoá khác nhau.
Truyền thông viên và đại diện hộ gia đình là những cá thé khác nhau, mức độ chịu anh hưởng của những giá trị chuẩn mực đối với mỗi chủ thé là khác nhau, vì vậy, mức độ hiểu biết, cũng như thể hiện thái độ, thực hiện hành vi của mỗi chủ thể là khác nhau. Ví dụ: đối với truyền thông viên, vấn đề đảm bảo an toàn cho trẻ khỏi bị thương tích từ những vật sắc nhọn trong gia đình là van đề quan trọng và cần quan tâm hàng đầu, nhưng đối với hộ gia đình, vấn đề này không quan trọng bằng công việc kiếm tiền mưu sinh hàng ngày nên không thực sự quan tâm thay đổi hiện trạng tại gia đình mình. Lý thuyết truyền thông thay đổi hành vi 1. Cơ chế thay đối hành vi và vai trò của truyền thông 22 Truyền thông thay đổi hành vi là hoạt động truyền thông có mục đích, có kế hoạch tác động vao tinh cảm, ly trí của các nhóm đối tượng nhằm thay nâng cao nhận thức, kĩ năng, hình thành thái độ tích cực, giúp đối tượng chấp nhận và duy trì hành vi mới.
Prochaska và DiClemente (1983) đã xây dựng nên một Khung lý thuyết về Mô hình thay đổi hành vi như sau: Thực hiện hành vi Sẵn sàng thay đồi/Muốn thay đổi Thut lùi Hiểu biết Chưa hiểu biết Các giai đoạn của quá trình thay đôi hành vi được hiểu như sau: Chưa hiểu biết: đối tượng có thé không biết hoặc không được nghe nói/tuyên truyền về van dé mà họ cần thay đôi (hoặc không muốn thay đổi do đã từng thất bại). Đặc điểm chủ yếu trong giai đoạn này là đối tượng không muốn thay đổi hành vi. Vai trò của truyền thông là cần giúp đối tượng thoát ra khỏi giai đoạn này bằng cách thực hiện các biện pháp thu hút đối tượng, làm cho đối tượng nhận thức rõ về vấn đề và những hệ quả tiêu cực của vấn đề. Hiểu biết: đôi tượng đã có sự hiểu biết nhất định về van đề, đồng thời cân nhắc sự được mất trong các trường hợp duy trì hay thay đổi hành vi hiện tại.
Có thể trong giai đoạn nay, mặc dù có sự hiểu biết về mặt tiêu cực của hành vi hiện tại nhưng đối tượng vẫn chưa thể chấp nhận việc thay đổi hành vi mới (vẫn còn duy trì hành vi cũ). Vai trò của truyền thông là giúp đối tượng nhận thức một 23 cách rõ ràng lợi ich của việc thay đổi hành vi, những rào cản đối với việc chấp nhận và thay đôi hành vi mới đồng thời tạo động lực cho đối tượng thay đổi hành VI. San sàng thay đồi/Muốn thay đổi: Đỗi tượng đã có hiểu biết rõ về mặt tiêu cực của hành vi cũ, lợi ích của việc thay đổi hành vi và bắt đầu có ý định/kế hoạch thay đổi hành vi. Tuy nhiên, đối tượng vẫn có thê chưa thực hiện ngay hành vi mới, do đã từng thất bại trong việc thay đổi hành vi trước đây, hoặc do không biết cách/phương pháp đề thay đổi hành vi, hoặc do e ngại về chính khả năng của mình.
Vai trò của truyền thông là tích cực cung cấp các thông tin hỗ trợ cho việc thực hiện hành vi (hỗ trợ của xã hội, các nhóm, các tô chức .), CÁC thông tin tư van kĩ thuật và tạo động lực thúc day hành động xảy ra. Thực hiện hành vi: đối tượng thực hiện (có thé chi là thử) hành vi mới. Đặc điểm rõ nhất là đối tượng giành thời gian, công sức để thực hiện hành vi mới. Sự thay đôi hành vi chỉ được ghi nhận khi nó thực sự làm giảm các nguy co do hành vi cũ gây ra (giảm các hệ quả tiêu cực).
Vai trò của truyền thông là cung cấp các thông tin về việc thực hiện hành vi mới (nhất là khi cá nhân thực hiện thử), những vấn đề đã được cải thiện khi thực hiện hành vi mới, các thông tin hỗ trợ cho việc thực hiện hành vị, sự ủng hộ của xã hội và giảm rào cản đối với hành vi mới. Việc tiếp tục truyền thông về lợi ích của hành vi mới vẫn cần thiết trong giai đoạn nay. Duy trì hành vi: đối tượng tiếp tục thực hiện và duy trì hành vi mới, từ bỏ hành vi cũ. Đối tượng trở nên tự tin khi thường xuyên thực hiện hành vi mới.
Đề đánh giá một đối tượng đang ở trong giai đoạn duy trì hành vi hay không, cần đánh giá về khả năng giải quyết vấn đề, từ bỏ hành vi cũ và thực hiện các hành vi mới (đối lập với hành vi cũ) trong một thời gian là khoảng sáu tháng. 24 Thut lùi: nêu trong giai đoạn thực hiện và duy trì, đối tượng không nỗ lực củng cô hành vi mới thì quá trình thay đổi hành vi sẽ rơi vào giai đoạn thụt lùi: đối tượng không còn tiếp tục thực hiện hành vi mới và có thê quay trở lại hành vi cũ. Vai trò của truyền thông là cần thường xuyên nhắc lại cho đối tượng về lợi ích của việc duy trì hành vi mới thay đổi này, cung cấp các thông tin về sự ủng hộ của xã hội và vê khả năng duy trì hành vi mới của đôi tượng. Thay đổi hành vi là một quá trình, trong đó đối tượng phải trải qua các bước trung gian để đạt đến một giai đoạn nhất định.
Khung lý thuyết trên giúp xác định đối tượng cần thay đổi hành vi đang ở giai đoạn nào của quá trình thay đối hành vi. Từ đó xác định các giải pháp truyền thông phù hợp và hiệu quả. Khi xác định đối tượng có biểu hiện chuyên sang giai đoạn tiếp theo, vai trò của truyền thông là phải đưa ra những thông điệp phù hợp và những thông tin hỗ trợ, hậu cần kĩ thuật cần thiết.