Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm liên quan * Khái niệm quản lý Trong tất cả các lĩnh vực, quản lý là yếu tố không thể thiếu. Ở đâu con người tạo nên nhóm xã hội thì ở đó cần có sự quản lý. Quản lý là khái niệm rộng về diện và phức tạp về nội hàm.
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về quản lý. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý với nhiều góc độ tiếp cận cũng như mục tiêu nghiên cứu. Quản lý được nghiên cứu như một khoa học dựa trên sự vận dụng những quy luật phát triển của đối tượng được nghiên cứu. Đồng đời, quản lý còn là một nghệ thuật để người quản lý có thể đạt được mục tiêu đề ra trong quá trình quản lý.
- Theo Mary Parker Follett: “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” [18, tr. 26] và theo Stoner: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực có sẵn để đạt được các mục tiêu của tổ chức” [18, tr. - Cùng một hướng tiếp cận, F.W Taylor và Henry Fayol cho rằng “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [48, tr. - Xét từ góc độ tâm lý học: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [27, tr.
- Dưới góc độ bảo tàng: Quản lý bảo tàng là một yếu tố sống còn trong quá trình phát triển và tiến bộ của bảo tàng. Nếu không có cơ chế quản lý thích hợp, các bảo tàng không thể có sự chăm sóc và sử dụng hợp lý các sưu tập hiện vật, bảo tàng cũng không thể duy trì và khuyến khích được một phần trưng bày và một chương trình giáo dục có hiệu quả. Nếu không có sự quản lý thích hợp, 17 bảo tàng có thể dễ dàng đánh mất mối quan tâm và niềm tin của công chúng và có thể gây nguy hại đến sự tồn tại của một bảo tàng [29, tr. Tất cả các bảo tàng đều có một cơ cấu quản lý bao gồm ít nhất ba yếu tố là quản lý hành chính, quản lý chuyên môn bảo tàng và quản lý quá trình hoạt động.
Công tác quản lý bảo tàng được thực hiện đúng với chức năng liên quan đến tất cả cán bộ bảo tàng. “Quản lý như là tập hợp các ý tưởng về việc làm thế nào để các tổ chức và đơn vị kinh doanh có thể hoạt động một cách hiệu quả chính là sự phát triển của bảo tàng ở thế kỷ XX” [58, Dẫn theo Lê Thị Minh Lý]. Nhìn chung, quản lý có liên quan tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Cụ thể hơn, quản lý là lên kế hoạch, tổ chức, trao đổi, kiểm soát và đánh giá, là giải quyết các xung đột trong quá trình thực hiện nhằm đạt mục tiêu.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu quản lý là hoạt động của con người, của chủ thể sử dụng quyền lực nào đó tác động vào khách thể nhằm điều khiển, điều phối hoạt động hướng đến mục tiêu cụ thể nhằm đạt được mục đích xác định. Hoạt động quản lý bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo quản lý, phối hợp và kiểm tra. * Khái niệm bảo tàng Các bảo tàng ra đời và phát triển khi có sự phát triển nhất định của xã hội, khi con người có những hoạt động thu thập, cất giữ những sự vật, hiện tượng khác nhau trong thiên nhiên và trong đời sống xã hội. Những sự vật, hiện tượng đó đáp ứng những nhu cầu về thẩm mỹ, tình cảm hoặc phục vụ mục đích chính trị nhất định.
Thuật ngữ bảo tàng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp – Mouseion có nghĩa là “đền thờ thần Muse” (Muse là những vị thần coi sóc học vấn và nghệ thuật), vừa có ý nghĩa là nghiên cứu về các sự vật. Vào thế kỷ XVII, Bảo tàng Ashmolean ở Oxford (Anh) được mở cửa, thuật ngữ Museum trở thành tên gọi thông dụng của các bảo tàng. Đến cuối thế kỷ XIX, những xu hướng trong việc tiến đến thành lập các bảo tàng trở nên rõ ràng hơn với những đặc điểm chính để tạo nên một bảo tàng: những bộ sưu tập được trưng bày đóng góp cho sự gia tăng 18 kiến thức thông qua chúng; những bộ sưu tập không nên sắp đặt một cách ngẫu nhiên mà nên sắp xếp dựa trên một kế hoạch phân loại có hệ thống và dễ nhận biết; những bộ sưu tập không nên được một cá nhân sở hữu và trông nom mà nên được nhiều hơn một người thay mặt cho công chúng quản lý; nên cho phép công chúng vào xem những bộ sưu tập một cách hợp lý, nếu cần thiết phải sắp xếp đặc biệt một lịch tham quan và có số tiền phí mà khách tham quan phải trả [50]. Cho đến thế kỷ XX, cùng với sự phát triển rộng khắp của các bảo tàng, đã có nhiều định nghĩa cho thấy phạm vi và tính chất của các bảo tàng ngày càng đa dạng, phong phú, có sự biến đổi lớn về mục đích, tính chất và quy mô.
Song, điều mà gây tranh luận nhiều nhất là các chức năng mà bảo tàng thực hiện. Qua nhiều giai đoạn phát triển, “bảo tàng” có nhiều định nghĩa khác nhau: Bảo tàng - theo nghĩa rộng nhất - là cơ quan được ủy thác gìn giữ tài sản của con người và vì lợi ích trong tương lai của loài người. Giá trị của nó là ở sự phục vụ xứng đáng cho đời sống cảm xúc và tinh thần của loài người. Hoạt động của một cán bộ bảo tàng… là vô cùng có ích [29, tr.
Hiện nay, khái niệm gần nhất của ICOM được nhiều bảo tàng sử dụng và nhiều tác giả trích dẫn là khái niệm: Bảo tàng là một cơ quan (tổ chức) không có, tồn tại lâu dài để phục vụ cho sự phát triển của xã hội, mở rộng đón công chúng. Bảo tàng thu nhận, bảo quản, nghiên cứu, trưng bày và tuyên truyền nhằm mục đích giáo dục, học tập và thưởng thức. Bảo tàng là bằng chứng xác thực về con người và môi trường xung quanh con người [29, tr. Tại Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi bổ sung năm 2009): Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội (sau đây gọi là sưu tập) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hoá của nhân dân [55].
Đây là định nghĩa tương đối ngắn gọn so với các định nghĩa của ICOM và các nước nhưng đã bao hàm tương đối đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng và hoạt động của bảo tàng. Ngày nay, bảo tàng không 19 chỉ đơn thuần là nơi để nghiên cứu, học tập và giải trí mà nó còn là nơi thể hiện quan điểm chính trị, hệ tư tưởng và cái đẹp. Có thể thấy rằng, định nghĩa bảo tàng theo từng thời điểm khác nhau có sự thay đổi phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của bảo tàng trong bối cảnh xã hội mà bảo tàng tồn tại. Hiện nay, theo nhận định của các nhà nghiên cứu bảo tàng, xu hướng phát triển của của bảo tàng sẽ theo hướng của “Bảo tàng học mới” – nhấn mạnh đến những khía cạnh xã hội của bảo tàng và bảo tàng nên phục vụ xã hội và cho chính sự phát triển của họ như thế nào, nhìn nhận các bảo tàng như những đối tượng của sự thay đổi xã hội mang tính tích cực.
“Bảo tàng học mới” – nhấn mạnh những mối liên hệ giữa các bảo tàng và những cộng đồng của họ; khuyến khích các bảo tàng trở nên dân chủ, dễ tiếp cận và gần gũi hơn với những nhu cầu cũng như những mối quan tâm của một cộng đồng cụ thể. “Bảo tàng học mới” – nhấn mạnh đến sự tham gia của cộng đồng trong các bảo tàng không chỉ với vai trò là những khách tham quan mà là những người tham gia bình đẳng trong sự phát triển và hoạt động của bảo tàng. Trong Luận văn này, tác giả chọn việc nghiên cứu những khía cạnh, nội dung về định nghĩa Bảo tàng theo Luật Di sản Văn hóa nhằm phân tích và định hướng cho các nội dung nghiên cứu của mình. * Khái niệm truyền thông Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “communicare” là biến nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải.
Về thực chất, đó là quá trình chia sẻ, truyền tải, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống. Quá trình này có thể diễn ra giữa các cá nhân, nhóm, xã hội. Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển cá nhân/nhóm/cộng đồng/xã hội [28, tr. 20 Hiện nay có nhiều mô hình truyền thông được biết đến và sử dụng tùy vào mục đích nghiên cứu và thực tiễn hoạt động của mỗi tổ chức, cá nhân.
Trong định hướng tiếp cận và nghiên cứu của Luận văn, học viên sử dụng mô hình truyền thông ở bảo tàng và đặc biệt sử dụng mô hình tiếp cận tổng thể truyền thông bảo tàng của Hooper-Greenhill để phân tích, đánh giá về quản lý hoạt động truyền thông của Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh. Mô hình tiếp cận tổng thể truyền thông bảo tàng của Hooper-Greenhill được hiểu như sau: Truyền thông trong hoạt động của bảo tàng không chỉ là truyền thông bằng lời nói, bằng biểu tượng mà có nhiều yếu tố khác bảo tàng cần quan tâm để xây dựng một chiến lược truyền thông cho bảo tàng: tòa nhà bảo tàng, thái độ phục vụ, đạo đức của cán bộ bảo tàng,v.v… Ngoài các hoạt động tại bảo tàng, các bảo tàng cần chú ý, quan tâm đến các hoạt động bên ngoài bảo tàng, trong đó có việc thiết lập các mối quan hệ với mạng lưới cộng tác viên cũng như xây dựng các chương trình đến gần hơn với công chúng. Hooper-Greenhill cũng cho rằng: “Nếu mỗi bảo tàng đều xây dựng được mối quan hệ của mình với công chúng thì công tác truyền thông sẽ được coi trọng và quản lý tốt hơn trong hoạt động của bảo tàng [53].