mở đầu cho sự hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở châu Âu. Một giai cấp mới ra đời từ các công trường thủ công, đó là giai cấp công nhân. Tuy nhiên ý thức giai cấp công nhân thời kỳ này chưa mang tính độc lập. Những thế hệ công nhân đầu tiên đã có chung một mục đích với giai cấp tư sản mới ra đời là chống lại giai cấp quý tộc, phong kiến.
Họ là một lực lượng to lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập như ở Hoa Kỳ (1776) hoặc trong Cách mạng Tư sản Pháp (1789) và nhiều cuộc cách mạng ở các quốc gia châu Âu khác. Ý thức của giai cấp công nhân, với tư cách là giai cấp độc lập được nảy sinh trong những điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học nhất định từ gần giữa thế kỷ XIX. Chính vào thời kỳ này chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ cùng với sự bóc !ật tàn tệ của nó đã khiến giai cấp công nhân dan dan nhận thức được sự đối lập về cơ bản lợi ích của mình với lợi ích của giai cấp tư sản. Sự bóc lột đã man sức lao động là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của phong trào công nhân quốc tế trên vũ đài chính trị với hàng loạt cuộc đấu tranh trên quy mô lớn như phong trào Hiến chương ở Anh (1837 - 1838), cuộc khởi nghĩa Liông ở Pháp (1831 - 1834), cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Xilédi ở Đức (1844).
Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã có tác động to lớn đến xu hướng vận động của lịch sử, đồng thờ: đánh dấu sự trưởng thành đến sự độc lập về ý thức của giai cấp công nhân. Tương ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhắt diễn ra nhờ hàng loạt các phát minh khoa học và kỹ thuật đã làm cho giai cấp công nhân phát triển nhanh chóng cả về số lượng lân chất lượng. Đồng thời cũng bắt đầu nảy sinh sự phân tầng trong giai cấp công nhân. Trong khi tuyệt đại 7 đa số công nhân là những người vô sản nghèo khổ thì một bộ phận, do có năng lực chuyên môn, tay nghề cao được giới chủ ưu ái, nên đã có thu nhập cao hơn.
Bộ phận công nhân này tuy chưa thỏa mãn lợi ích của mình, nhưng đấu tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là một nhu cầu bức xúc. Bộ phận “quý tộc” này trong đội ngũ công nhân là cơ sở xã hội đầu tiên của trào lưu xã hội dân chủ. Chủ nghĩa xã hội không tưởng thé kỷ XVIII và thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức của giai cấp công nhân nói chung và ý thức của những người xã hội đân chủ trong giai cấp công nhân nói riêng. Các học thuyết của Ôoen, R.
Rútxô, Xanh ximông, Phuriê đã góp phần làm cho giai cấp công nhân nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa tư bản và về thân phận của mình. Những trước tác của các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã chỉ ra: Thứ nhất, chủ nghĩa tư bản là một xã hội bất công, là nguyên nhân của đối kháng giai cấp, của tình trạng nghèo khổ, đốt nát. Thứ hai, chủ nghĩa tư bản làm nảy sinh ra giai cấp vô sản và thúc đẩy đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản lên một tầm cao mới. Thứ ba, về giải pháp cho sự phát triển của lịch sử, Ôoen cho rằng, “hoàn toàn không thể thực hiện bằng bao lực hay sự căm phan và sự đối xử độc ác đối với một bộ phận nào đó của loài người” để thay đổi xã hội tư bản, mà phải tiến hành “cách mạng trong ý thức và hoạt động của nhân loại”, nghĩa là bằng giáo giục, bằng thuyết phục, bằng lẽ phải, đạo đức.
Còn Xanh Ximông thì cho rằng, “phải chuyển tài sản cá nhân tư sản cho nhà nước”, bằng khoa học quản lý xã hội công nghiệp và cũng bằng con đường “thuyết phục giai cấp bóc lột”; Phuriê thì lớn tiếng đòi “tiêu diệt chế độ đó”. Tuy nhiên ông lại phản đối cách mạng, bởi, theo ông cách mạng sẽ tạo ra những biến đổi nhà nước, mà những thay đổi về nhà nước bằng bạo lực cách mạng sẽ dẫn đến sự đổ vỡ và cảnh nồi da nấu thịt tang thương trong xã hội. Như vậy, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã phê phán, lên án chủ nghĩa tư bản song phủ nhận con đường bạo lực cách mạng để thay đổi xã hội đó. Chủ nghĩa xã hội không tưởng cho rằng, con đường duy nhất để thay đổi chủ nghĩa tư bản chỉ có thể là sử dụng các biện pháp giáo dục, thuyết phục.
Dù chủ trương theo cách nào 8 chăng nữa, thì các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đều đã không thể chỉ ra được con đường cách mạng nhằm thủ tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội mới công bằng, bình dang hơn như họ hằng mơ ước. Từ nửa sau thế kỷ XIX bên cạnh chủ nghĩa xã hội không tưởng còn có chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác, và nhiều học thuyết khác về tổ chức, điều hành xã hội, bao gồm cả các học thuyết xã hội của đạo Thiên chúa va đạo Tin lành. Tuy nhiên, người có ảnh hưởng sâu sắc hơn cả đối với sự hình thành trào lưu xã hội dân chủ là Bécstanh. Bécstanh đã đưa ra những luận điểm triết học về sự vận động của lịch sử, về mối quan hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, về chiến lược cải cách của giai cấp công nhân và một loạt khái niệm, trong đó có khái niệm “dân chu” được trào lưu xã hội dân chủ sau đó lấy làm nền tảng học thuyết của mình.
Những tác động thực tiễn cũng như trên phương diện lý luận đã dẫn đến việc nhanh chóng thành lập tổ chức xã hội dân chủ. Trước hết phải nói đến “Tổng hội Công nhân Đức” (1863) do Látxan tổ chức và lãnh đạo. Những người lãnh đạo tổ chức này muốn dẫn dắt công nhân đi theo hướng cơ hội, cải lương với ảo tưởng đưa nước Phổ độc tài tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách hòa bình. Sự ra đời của “Đảng Công nhân xã hội dân chủ Đức” (1869) là sự kiện có tâm vóc lịch sử trong phong trào công nhân quốc tế.
Dang này do A.Bêben, một người mácxít tổ chức và lãnh đạo. Mục tiêu Đảng xã hội dân chủ là đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa hiện đại, phấn đấu xây dựng một nhà nước nhân dân tự do. Nhưng, trong khi lãnh tụ A.Bêben còn bị cầm tù thì những người lãnh đạo hữu khuynh của dang đã sát nhập Đảng công nhân xã hội dân chủ Đức với Tổng hội Công nhân Đức thành “Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Đức” ở quy mô toàn quốc. Đại hội sát nhập diễn ra ở Gôta (1875) đã thông qua Cương lĩnh Gôta.
“Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Đức” được coi là tổ chức Đảng xã hội dân chủ đầu tiên ở châu Âu, đồng thời cũng là Đảng xã hội dân chủ đầu tiên trên thế giới. Cũng vào thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XIX, khuynh hướng xã hội dân chủ ở châu Âu đã thực sự trở thành trào lưu lớn trong phong trào công nhân với sự ra đời của một loạt các Đảng xã hội dân chủ, mang những tên gọi khác nhau. Ở Pháp, phong trào xã hội chủ nghĩa cũng dâng cao mạnh mẽ và một cột mốc quan trọng là việc thành lập Đảng công nhân Pháp tháng 10 năm 1879 ở Mácxây. Đảng cũng đã trải qua cuộc đấu tranh quyết liệt giữa những người mácxít và các phần tử cải lương.
Mục đích chủ yếu của phong trào là giành đa số trong các hội đồng thị chính dé “dần dần thay thế chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu” thông qua việc thành lập các xí nghiệp của hội đồng thị chính. Cương lĩnh này đã bị đa số công nhân phê phán. Cũng trong năm 1879, Đảng xã hội dân chủ Bỉ ra đời, sau đó hợp nhất với một số tổ chức công nhân như các nghiệp đoàn và hợp tác xã. Qua đó, phong trào được mở rộng và tính quần chúng của đảng cũng tăng lên.
Ở Hà Lan các nhóm xã hội dân chủ đã xuất hiên vào cuối những năm 70. Đến năm 1882 các nhóm này hợp nhất thành Hội xã hội dân chủ và đến năm 1894 thành lập Đảng xã hội dân chủ Hà Lan. Ở Thụy Điển, Đảng công nhân xã hội dân chủ thành lập năm1889, nhưng ngay từ đầu quyền lãnh đạo Đảng lại rơi vào tay những người cải lương. Ngoài ra, ở các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Na Uy, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Bungari, Rumani.
đều ra đời các đảng công nhân ít nhiều mang tư tưởng xã hội dân chủ đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác. Sự phát triển rầm rộ của các tổ chức chính trị của giai cấp vô sản thúc đẩy việc truyền bá tư tưởng xã hội chủ nghĩa, các giá trị về dân chủ nhân đạo và quyền con người trong giai cấp công nhân. Trong cao trào đấu tranh rộng lớn của giai cấp vô sản nổi lên các cuộc bãi công với quy mô lớn và kéo đài ở nhiều nước trong những năm 80 và 90 thé ky XIX. Đặc biệt, sự phát triển của phong trào xã hội chủ nghĩa thúc đẩy yêu cầu thành lập tổ chức quốc tế mới của công nhân.
Ngày 14/7/1889, Đại hội công nhân 10 quốc tế họp ở Pari. Các đại biểu từ hơn 20 nước đã đến dự Đại hội. Hầu hết các đảng đến dự đều đứng trên lập trường xã hội chủ nghĩa khoa học. Nghị quyết của Đại hội xác nhận chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở tư tưởng của phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa.
Đại hội thông qua cương lĩnh đấu tranh rộng rãi vì các lợi ích bức thiết của giai cấp công nhân. Đại hội không đưa nghị quyết thành lập tổ chức quốc tế mới, nhưng về sau được công nhận là Đại hội thành lập Quốc tế II. Thực tế là ngay từ khi mới ra đời, bên cạnh khuynh hướng mácxít đã có khuynh hướng cải lương, xét lại. Vì vậy lịch sử của Quốc tế II là lịch sử đấu tranh giữa các khuynh hướng cải lương và cách mạng, chủ nghĩa xét lại với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.
Ở Đức, sau Đại hội của Đảng xã hội dân chủ ở Gôta, ảnh hưởng của phái Látxan lên cao. Chủ nghĩa cải lương, cơ hội trong Đảng còn phát triển hơn khi Đảng giành được thắng lợi trong bầu cử nghị viện.