Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, bài nghiên cứu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như tổng quan về phương pháp hồi quy, nguồn dữ liệu và các biến trong mô hình. Chương 2: Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Trong chương này, bài nghiên cứu trình bày tổng quan một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới trước đây về đề tài tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày cụ thể về mô hình hồi quy, các kiểm định của mô hình, nguồn và cách lấy dữ liệu cũng như định nghĩa về các biến và đưa ra các giả thiết trong bài. Chương 4: Kết quả hồi quy và thảo luận về tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp ngành Hàng tiêu dùng ở Việt Nam. Chương này trình bày kết quả thống kê mô tả các biến, phân tích tương quan giữa các biến, đưa ra kết quả hồi quy và thảo luận các kết quả hồi quy.
Chương 5: Kết luận. Chương này sẽ tóm tắt tất cả các kết quả nghiên cứu, trình bày những hạn chế và đưa ra đề xuất cho những nghiên cứu tiếp theo. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA CÔNG TY 2. Các nghiên cứu trƣớc đây về tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của công ty.
Mối quan hệ giữa tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi đã được đề cập đến trong nhiều bài nghiên cứu trước đây. Bởi vì, tính thanh khoản đảm bảo cho sự tồn tại trong ngắn hạn còn tỷ suất sinh lợi đảm bảo cho một sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xem xét mối quan hệ này, nhưng chỉ xoay quanh hai trường phái tư tưởng khác nhau. Một trường phái cho rằng việc duy trì một mức thanh khoản cao không phải là một nhân tố nâng cao tỷ suất sinh lợi và có thể còn tồn tại một mối tương quan âm giữa chúng.
Ngược lại, một trường phái tư tưởng khác lại cho rằng đầu tư vào tài sản ngắn hạn, hay nói cách khác đảm bảo thanh khoản cao là một trong những nhân tố giúp nâng cao tỷ suất sinh lợi nếu như có thể đảm bảo lượng tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn,… trong thực tế giống như trong các lý thuyết phân tích. Bài nghiên cứu này sẽ trình bày tổng quan một số bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về tác động của tính thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Đầu tiên, năm 1996, Rafuse, M.E trong bài nghiên cứu “Working Capital Management: An Urgent Need to Refocus” cho rằng việc cố gắng cải thiện lượng vốn ngắn hạn để trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ với các chủ nợ có thể gây ra tác động gián tiếp làm giảm tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp và tác động xấu đến nền kinh tế nói chung. Trong bài nghiên cứu này, tác giả kêu gọi các tổ chức tìm kiếm các chiến lược làm giảm vốn ngắn hạn để tập trung vào các chiến lược quản lý cổ phiếu dựa trên kỹ thuật “chuỗi tự cung ứng”.
Ông là một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu trực tiếp về tác động của thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi. 6 Tiếp theo, vào năm 1997, trong bài nghiên cứu “Measuring Association between Working Capital and Return on Investment”, Smith và các cộng sự đã nêu lên rằng tỷ suất sinh lợi và tính thanh khoản là những mục tiêu nổi bật của việc quản lý tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Vấn đề phát sinh ở đây là tối ưu hóa tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp có thể đe dọa nghiêm trọng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp, và nếu theo đuổi tính thanh khoản thì có thể dẫn đến sự pha loãng vốn đầu tư, gián tiếp làm giảm tỷ suất sinh lợi. Vấn đề được tác giả nghiên cứu dựa trên bộ dữ liệu của các doanh nghiệp công nghiệp được liệt kê trên thị trường chứng khoán Johannesbeurg – Nam Phi để kiểm chứng có tồn tại hay không một mối quan hệ giữa tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi.
Kết quả cho thấy rằng tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi có tương quan âm và các chỉ số đại diện cho thanh khoản có mối quan hệ đáng kể với tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư - ROI. Narware, trong đề tài “Working capital and profitability – An empirical analysis” cho rằng cần thiết phải nghiên cứu vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình tạo ra tài sản, nâng cao tỷ suất sinh lợi. Ông đưa ra lập luận rằng khá nhiều doanh nghiệp quá chú tâm vào lượng vốn đầu tư trong quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi mà bỏ quên mất một vai trò không nhỏ của tài sản ngắn hạn. Nghiên cứu này xem xét tác động của tài sản ngắn hạn lên tỷ suất sinh lợi ở một doanh nghiệp, để giúp nhà quản trị đưa ra quyết định lựa chọn giữa tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi với các quyết định về yêu cầu vốn hoạt động.
Bài nghiên cứu đã trình bày kết quả của nghiên cứu trên các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong khoảng thời gian 1990-1991 đến 1999-2000, sử dụng các phương pháp hồi quy và xem xét tương quan giữa tỷ suất sinh lợi (ROI) với tỷ lệ tài sản ngắn hạn. Kết quả cho thấy có một mối tương quan âm giữa các biến được xem xét và đã đưa ra kết luận rằng sự gia tăng tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp tương ứng với một sự sụt giảm tài sản ngắn hạn nhưng với tỷ lệ nhỏ hơn. Năm 2007, Garcia-Teruel và Martinez-Solano trong tác phẩm “Effects of working capital management on SME profitability” đã nghiên cứu những tác động của việc quản lý tài sản ngắn hạn đến tỷ suất sinh lợi của một mẫu gồm các doanh 7 nghiệp vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha. Họ nhận thấy các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị bằng cách giảm hàng tồn kho và vòng quay hàng tồn kho.
Hơn nữa, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng cải thiện tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. Việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt làm gia tăng tính thanh khoản của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc gia tăng thanh khoản cũng có tác động cải thiện tỷ suất sinh lợi ở các doanh nghiệp được nghiên cứu. Cũng trong năm 2007, một nghiên cứu đáng chú ý khác của Raheman, A.
là “Working capital management and profitability – case of Pakistani firms” đã được thực hiện trên 94 doanh nghiệp được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Karachi (Pakistan) trong khoảng thời gian 6 năm từ 1999 đến 2004. Ngoài các biến quen thuộc khi nghiên cứu tính thanh khoản của các doanh nghiệp, tác giả còn đưa thêm biến tài sản tài chính và biến đại diện cho quy mô doanh nghiệp vào phương trình hồi quy của mình; cùng với các phân tích tương quan và hồi quy dữ liệu bảng đã cho thấy một mối tương quan âm mạnh mẽ giữa thanh khoản và tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp được phân tích. Đặc biệt biến tỷ lệ nợ và biến chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có tương quan âm khá lớn với biến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp. trong bài nghiên cứu “The Effect of Working Capital Management on Firm Profitability: Evidence from Turkey” cũng cho rằng các doanh nghiệp nên thiết lập một sự cân bằng giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro khi nói đến việc quản lý tài sản ngắn hạn.
Bài viết đem đến những bằng chứng thực nghiệm cụ thể về tác động của hoạt động quản lý tài sản ngắn hạn trên tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp được lựa chọn trên sàn giao dịch chứng khoán Istanbul trong giai đoạn 2005-2008. Kết quả cho thấy ảnh hưởng rõ ràng của việc quản lý tài sản ngắn hạn đến tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp được nghiên cứu. Các doanh nghiệp cần tập trung vào chu kỳ chuyển đổi tiền mặt có nguồn gốc từ số ngày các khoản nợ phải trả, số ngày phải thu và số vòng quay hàng tồn kho. 8 Năm 2008, trong bài nghiên cứu “Working Capital and Profitability: An Empirical Analysis of Their Relationship with Reference to Selected Companies in Indian Pharmaceutical Industry”, Chakraborty đã chứng minh tác động đáng kể của chính sách quản lý tài sản ngắn hạn đến tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp trong ngành và cho rằng việc nắm giữ một lượng tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào đặc điểm riêng của các doanh nghiệp trong ngành.
Một mối tương quan dương đã được tìm thấy giữa tài sản ngắn hạn và các hoạt động tài chính của các doanh nghiệp dược phẩm ở Ấn Độ. Bài nghiên cứu sử dụng biến ROCE để đại diện cho tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp và đặc biệt quan tâm đến tác động của thuế trong mối quan hệ được nghiên cứu. Bài nghiên cứu đánh giá mối quan hệ của lượng tài sản ngắn hạn và tỷ suất sinh lợi của 25 doanh nghiệp được lựa chọn trong ngành Dược phẩm Ấn Độ trong giai đoạn 1996-1997 đến 2007-2008. Năm 2009, trong bài nghiên cứu “Impact of liquidity management on profitability: A study of the adaptation of liquidity strategies in a financial crisis” của Sanna Lamberg và Sandra Vålming, các tác giả đã xem xét cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để điều chỉnh chiến lược quản lý tính thanh khoản của họ trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu lan rộng trên toàn thế giới.
Trong thời gian này, khi các nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều bất ổn cũng như là những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, các tác giả đã thực hiện nghiên cứu này để làm sáng tỏ các vấn đề sau: Thứ nhất, liệu rằng chiến lược quản lý tính thanh khoản một cách chủ động có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp trong giai đoạn bất ổn kinh tế hay không? Thứ hai, liệu rằng tầm quan trọng của các tỷ số chính trong việc đo lường tính thanh khoản có thay đổi trong thời gian này hay không? Cuối cùng, bài nghiên cứu còn xem xét xem sự thay đổi của chiến lược quản lý tính thanh khoản có liên quan đến tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp tính bằng lợi nhuận trên tài sản (ROA) hay không? 9 Mẫu dữ liệu bao gồm các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Stockholm. Kết quả cho thấy sự thích nghi của các chiến lược quản trị tính thanh khoản không có tác động đáng kể đến ROA.