Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan về kiều hối và những nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ KIỀU HỐI VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về kiều hối 2. Kiều hối là gì? Một cách đơn giản, theo Puri & Ritzema (1999), kiều hối (international remittances) có thể được định nghĩa là “phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài gửi về nước”. Một cách chi tiết hơn, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa kiều hối của người lao động “là hàng hoá và các công cụ tài chính do người lao động sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên chuyển về đất nước họ” (Addy et al.
Kiều hối là nguồn tài chính phát sinh từ những công dân của một nước đang ở ngoài lãnh thổ quốc gia. Theo định nghĩa hẹp, kiều hối là một khoản chuyển đi nhưng không được nhận lại (“unrequited transfers”) – chủ yếu nói đến tiền gửi của những người di cư cho gia đình và bạn bè mà không có bất cứ yêu cầu hay đòi hỏi nào từ người gửi, không giống như những dòng tài chính khác như nợ hoặc vốn cổ phần (Devesh Kapur, 2003). Dựa vào IMF’s Balance of Payments Yearbook, kiều hối được tạo nên từ 3 thành phần sau: Thu nhập của người lao động ở nước ngoài (compensation of employees): nếu những người di cư sống ở quốc gia khác dưới một năm thì toàn bộ thu nhập của họ được gọi là thu nhập của người lao động ở nước ngoài – một bộ phận của yếu tố thu nhập trong tài khoản vãng lai. 8 Kiều hối của người cư trú (workers’ remittances) là dòng tiền được chuyển về nước theo phương thức chuyển tiền vãng lai bởi những người dân di cư hoặc đã định cư đã sinh sống và làm việc ở một quốc gia khác từ một năm trở lên.
Kiều hối của người cư trú được xem là một bộ phận của chuyển giao hiện tại trong tài khoản vãng lai. Tài sản thuyên chuyển của người di cư (migrants’ transfer) bao gồm các khoản tài chính phát sinh từ việc chuyển đổi, thay đổi nơi cư trú từ một nền kinh tế này sang một nền kinh tế khác, ở một quốc gia khác. Thành phần này của kiều hối được xem là một bộ phận của tài khoản vốn. Các dòng kiều hối Hiện nay có nhiều cách phân chia, tùy theo căn cứ khác nhau mà nguồn tiền kiều hối được phân loại khác nhau.
Nếu căn cứ vào phương thức chuyển tiền thì kiều hối được phân thành hai loại: Kiều hối chuyển theo kênh chính thức (formal channel): chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức chuyển tiền, các đại lý được cấp phép. Kiều hối chuyển qua kênh phi chính thức (informal channel): sử dụng công nghệ chi phí thấp, thô sơ, chủ yếu họ dựa trên sự tin tưởng nhau. Bao gồm gửi kiều hối bằng tiền mặt hoặc thông qua người vận chuyển (ví dụ như người thân, bạn bè hoặc những người vận chuyển khác), tiền hoặc hàng hóa được người di cư chuyển về thông qua các đợt về thăm quê hương, các tổ chức chuyển tiền không có giấy phép sử dụng mạng lưới 9 truyền thống như Hawala and Hundi (Nam Á), Fei ch’ien (Trung Quốc), Phoe kuan (Thái Lan), Hui (Việt Nam), Casa de cambio (Nam Mỹ). Bất chấp sự phát triển của kênh chính thức, một lượng đáng kể kiều hối vẫn tiếp tục chảy qua kênh phi chính thức, nằm ngoài tầm kiểm soát và các quy định của Chính phủ (Devesh Kapur, 2003).
Sở dĩ kênh phi chính thức vẫn thu hút nhiều kiều hối vì: không yêu cầu xuất trình nhiều giấy tờ và các thủ tục hành chính phức tạp, chi phí giao dịch rẻ và thấp hơn các kênh chính thức, nhanh và đáng tin cậy vì được dựa trên mạng lưới người thân và bạn bè. Tiền được chuyển qua kênh phi chính thức có thể đến từ các hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp mà chính phủ không thể kiểm soát được. Vì vậy nguy cơ lạm dụng kiều hối để rửa tiền và tài trợ các hoạt động bất hợp pháp (ví dụ như khủng bố) gia tăng. Điều này có thể vi phạm pháp luật về phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Thực trạng kiều hối Việt Nam Với xu thế mở cửa hội nhập, Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiều bào về nước đầu tư cũng như việc nhận kiều hối cũng thông thoáng hơn trước (người nhận kiều hối được nhận trực tiếp bằng ngoại tệ, không bắt buộc phải bán hoặc gởi tiết kiệm vào ngân hàng,…). Thêm vào đó dịch vụ chuyển tiền kiều hối khá phát triển về lượng cũng như về chất, mức phí cũng cạnh tranh hơn. Vì thế, trong những năm gần đây lượng kiều hối đổ về Việt Nam tăng trưởng ổn định và đạt được những con số kỷ lục. Kiều hối Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 (đơn vị: tỷ USD).0 2003 2000 2001 2002 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Nguồn: Số liệu kiều hối World Bank.
Giai đoạn từ năm 2000 đến trước quý 4 năm 2008 Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong giai đoạn này liên tục tăng với con số ấn tượng. Do tình hình kinh tế của đất nước và chính trị - xã hội ổn định, vị thế của đất nước ngày một tăng và đặc biệt là những chính sách của Nhà nước thông thoáng tạo nhiều cơ hội cho người đầu tư nên thu hút được nhiều nguồn đầu tư, cũng như kiều hối chuyển về cho thân nhân đầu tư. Giai đoạn từ đầu quý 4 năm 2008 đến hết năm 2009 Dựa vào hình 3.1 bên dưới ta thấy, trong năm 2008 có 6,805 tỷ USD kiều hối được chuyển về Việt Nam, tăng mạnh so với các năm trước. Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 10/2008 lượng kiều hối chuyển về Việt Nam thông qua các kênh chính thức bắt đầu giảm dần.
Trong khi theo thông lệ hàng năm, khoảng thời gian từ đầu tháng 10 năm nay đến tháng 1 năm sau mới chính là “mùa kiều hối”. Nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. 11 Đặc điểm của kiều hối nhìn chung xuất phát từ hai nguồn chính là tiền của người Việt Nam đi xuất khẩu lao động gởi về cho gia đình và tiền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài gởi về giúp đỡ người thân trong nước. Do tác động của khủng hoảng kinh tế, lương trả cho công nhân suy giảm đồng thời việc tiếp nhận lao động mới cũng không còn được như trước.
Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam năm 2009 là 6,02 tỷ USD, giảm 12% so với năm 2008. Đây là lần đầu tiên lượng kiều hối của Việt Nam sụt giảm sau 4 năm tăng liên tiếp. Điều này là hệ quả tất yếu của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhiều nước đã bắt đầu sa thải những nhân viên hiện tại và ngưng nhận nhân công mới. Theo ghi nhận vào cuối tháng 12/2009 của Bộ lao động, thương binh và xã hội Việt Nam, mới chỉ có 45.000 lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc trong khi chỉ tiêu xuất khẩu lao động năm 2009 là 90.
Tuy nhiên, kiều hối có được do xuất khẩu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng lượng kiều hối nhận được. Phần lớn kiều hối đến từ nguồn thứ hai, tức là từ những người nhập cư chuyển về nước, trong đó gần 2/3 lượng kiều hối Việt Nam nhận được là từ Mỹ. Kinh tế Mỹ đang trải qua giai đoạn khó khăn làm lượng kiều hối mà cộng đồng người Việt ở Mỹ chuyển về Việt Nam giảm mạnh. Giai đoạn từ 2010 đến nay Trong giai đoạn này nền kinh tế thế giới đang trên đà phục hồi, lượng kiều hối chuyển về nước đạt mức kỷ lục.
Kiều hối năm 2010 là 8,26 tỷ USD tăng 21% so với năm 2008 – mức cao nhất của giai đoạn trước. Những năm tiếp theo (từ 2011 đến nay), kiều hối liên tục tăng và tăng một cách ổn định. Nhìn vào hình 3.2 ta thấy năm 2013 thực sự là một năm ấn tượng, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam là 11 tỷ USD, gần tương đương với xuất khẩu xăng dầu 12 12 tỷ USD – một trong những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực năm 2013 trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Với con số kiều hối kỷ lục, Việt Nam đã được World Bank xếp và top mười quốc gia dẫn đầu về thu hút kiều hối năm 2013.2: Top 10 quốc gia dẫn đầu về thu hút kiều hối năm 2013 (đơn vị: tỷ USD) Nguồn: World Bank.
Các nguyên nhân chính dẫn đến sự chuyển dịch mạnh mẽ của kiều hối vào Việt Nam trong giai đoạn này là: Sự sôi động trên thị trường bất động sản và sự hấp dẫn về lãi suất tiền gởi đối với đồng USD. Trong năm 2010, khi lãi suất của đồng USD trên thế giới khá thấp (lãi suất cho vay liên ngân hàng thế giới chỉ dao động quanh 0.78% năm cho tất cả các kỳ hạn) thì ở Việt Nam các ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất quanh mức 5% cho tiền gởi bằng đồng USD. 13 Chính sách kiều hối của Việt Nam thông thoáng và cởi mở hơn như: cho phép gởi và nhận kiều hối bằng đồng USD, chính thức cho phép kiều bào tham gia mua bất động sản (Nghị định 71). Các ngân hàng thương mại triển khai nhiều giải pháp thu hút nguồn ngoại tệ bằng cách đa dạng hóa các kênh chi trả và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nói tóm lại, trong những năm qua dòng kiều hối đổ vào Việt Nam liên tục gia tăng. Riêng trong năm 2008 và 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên lượng kiều hối có giảm đi nhưng không nhiều. Nó chỉ là một sự chuyển biến rất nhỏ so với mức giảm của đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tài sản tại các nước đang phát triển trong cùng giai đoạn. Từ năm 2010 đến nay, dòng kiều hối tăng liên tục và ổn định.
Cùng với Thái Lan và Philippines, Việt Nam tiếp tục được xem là nước có nguồn kiều hối tăng trưởng mạnh mẽ trong số các nước đang phát triển ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP – East Asia Pacific) (Migration and Remittances Team, Development Prospects Group, World Bank, 11 Apr 2014). Đây là một trong những nguồn thu hút ngoại tệ hiệu quả, có tiềm năng lớn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu các tác động của dòng kiều hối đến nền kinh tế nói chung và lạm phát nói riêng để đưa ra chính sách nhằm phát huy thế mạnh và hạn chế những tác động tiêu cực là điều cần thiết.