Chương 1: Giới thiệu Trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Mục tiêu của chương là giải thích các khái niệm, giới thiệu những lý thuyết nền tảng liên quan đến nghiên cứu như lý thuyết di cư, lý thuyết di cư quốc tế, kinh tế học hộ gia đình, lý thuyết hành vi người tiêu dùng. Đồng thời, chương tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm liên quan làm tiền đề cho nghiên cứu này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Nội dung của chương tập trung vào việc xác định mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, nguồn dữ liệu và các Trang 4 dữ liệu có liện quan.
Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích cụ thể để giải quyết các mục tiêu đã đề ra cũng được xác định trong chương này Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Nội dung của chương nhằm đánh giá sơ lược thực trạng và đặc điểm chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam, cũng như lượng kiều hối mà hộ nhận được trong giai đoạn 2010-2014. Phân tích kết quả thống kê mô tả, kiểm định các giả thuyết của mô hình, phân tích kết quả của mô hình kinh tế lượng. Từ đó, xác định mức độ tác động của kiều hối đến chi tiêu của hộ gia đình Việt Nam trong giai đoạn 2010-2014 Chương 5: Kết luận Trình bày những kết luận được rút ra từ kết quả phân tích và đưa ra một số gợi ý về chính sách. Trang 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nội dung chương tập trung vào việc giải thích các khái niệm, giới thiệu những lý thuyết nền tảng và tổng hợp kết quả các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài.
Kiều hối: Theo Ngân hàng thế giới (WB), kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từ nước ngoài vào một quốc gia có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ra nước ngoài, được thể hiện qua cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), kiều hối là hàng hóa và các công cụ tài chính do người lao động sống và làm việc ở nước ngoài từ một năm trở lên chuyển về cho người thân tại đất nước của họ. Theo Puri & Ritzema (1999), kiều hối có thể được định nghĩa là phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài gửi về nước. Trong nghiên cứu này, kiều hối được hiểu theo khái niệm được viết trong Sổ tay Khảo sát mức sống hộ gia đình như sau: Tiền mặt và trị giá hiện vật dùng cho sinh hoạt do người ngoài thành viên hộ cho, biếu, mừng, giúp từ nước ngoài trong 12 tháng qua.
Chi tiêu: Theo sổ tay Khảo sát mức sống hộ gia đình, chi tiêu bao gồm: các khoản chi tiêu cho ăn uống, kể cả những sản phẩm tự sản xuất đã tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống của hộ dân cư (trong các dịp lễ tết và thường xuyên hàng ngày); chi tiêu dùng hàng không phải lương thực, thực phẩm và chi khác của hộ. Ngoài ra, một số chi tiêu cụ thể khác cũng được định nghĩa trong sổ tay Khảo sát mức sống hộ gia đình. Chi tiêu dùng hàng ăn uống: Khoản chi tiêu này bao gồm: chi tiêu dùng hàng ăn uống trong các dịp lễ, Tết và chi tiêu dùng hàng ăn uống thường xuyên. Trong đó, chi tiêu dùng hàng ăn uống trong các dịp lễ, Tết là các chi tiêu, tiêu dùng lương thực, thực phẩm trong các dịp như: Tết Nguyên đán, Noel, Tết đặc thù của đồng bào dân tộc, Quốc khánh, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, Trung thu,v.
Chi tiêu cho giáo dục: Khoản chi tiêu này bao gồm: học phí; học phí trái tuyến; đóng góp cho trường lớp, quĩ phụ huynh học sinh, quĩ lớp; quần áo đồng phục và trang phục theo qui định; sách giáo khoa, sách tham khảo; dụng cụ học tập khác; học thêm cho môn học thuộc chương trình quy định; chi giáo dục khác như lệ phí thi, đi lại, trọ, bảo hiểm thân thể học sinh, sinh viên.; chi phí cho giáo dục đào tạo khác như: các bằng ngoại ngữ, đánh máy tốc ký, cắt tóc làm đầu, trang điểm. Chi tiêu cho y tế: Khoản chi tiêu này bao gồm: chi phí khám chữa bệnh ngoại trú (như tiền công khám, chữa bệnh, tiền thuốc, bồi dưỡng thầy thuốc, đi lại.); chi phí điều trị nội trú (như viện phí, chi phí bồi dưỡng thầy thuốc, tiền dịch vụ theo yêu cầu, mua thêm thuốc, đi lại trông nom.); chi phí mua bảo hiểm; chi phí mua thuốc không qua khám để tự chữa hoặc dự trữ; chi phí mua dụng cụ y tế (như ống nghe, máy đo huyết áp, máy trợ thính, máy hút đờm, tủ thuốc, ống kẹp nhiệt độ, bông, băng, gạc. Hộ gia đình: Theo sổ tay khảo sát mức sống hộ gia đình, hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi. Thời gian 12 tháng tính từ thời điểm tiến hành cuộc phỏng vấn trở về trước.
Di dân: Mục 7, Điều 3, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, sô 06/2003/PL- UBTVQH11, ngày 09 tháng 01 năm 2003 ghi rõ, di cư là “sự di chuyển dân số từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ địa phương này sang địa phương khác”. Kinh tế học hộ gia đình Trong kinh tế học hiện nay, việc nghiên cứu hộ gia đình ngày càng được chú ý vì các quyết định của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia. Chẳng hạn việc muốn sinh bao nhiêu con của họ quyết định sự phát triển dân số. Việc quyết định làm việc gì và bao nhiêu thời gian ảnh hưởng đến sức lao động của xã hội.
Việc quyết định sản xuất cái gì, tiêu dùng cái gì, tiết kiệm bao nhiêu ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng. Việc quyết định cho con đi học đến lớp nào, bồi dưỡng sức khỏe bao nhiêu ảnh hưởng đến việc đầu tư vào vốn con người. Việc ra quyết định của họ chịu ảnh hưởng của thể chế xã hội nhưng ngược lại thể chế lại chịu ảnh hưởng của những quyết định của họ. Lý thuyết của Tchayanov xuất hiện từ năm 1925 nhưng mãi đến giữa các năm 60 mới được các nhà kinh tế học phương Tây biết đến sau khi công trình này được dịch ra tiếng Anh.
Đồng thời vào thời gian này, Becker (1965) viết một bài báo về lý thuyết sử dụng thời gian đưa ra ý tưởng về một hàm lợi ích của nông dân được tính bằng một loại “hàng hóa Z” sản xuất ra để tiêu dùng trong hộ, đứng đầu vẫn là thời gian lao động của lao động phụ thuộc vào việc phân phối thời gian giữa việc sản xuất hàng hóa cho thị trường và hàng hóa không thị trường cần cho lợi ích của gia đình. Các lý thuyết này đã bắt đầu cho một hướng nghiên cứu mới gọi là kinh tế học mới về hộ gia đình (New household economics). Mô hình của Tchayanov là mô hình của một hộ nông dân tự cấp, nếu biểu diễn bằng hàm lợi ích có dạng sau: U = f (Y, H) Trang 8 Trong đó : U : lợi ích của hộ; Y: thu nhập của hộ; H: thời gian nhàn rỗi (ngược lại với sự năng nhọc của lao đồng) Becker (1964, 1965) đã mở rộng mô hình tân cổ điển về cầu tiêu thụ của gia đình. Trong mô hình này, hàm hữu dụng chung là hàm hữu dụng đã tối đa hóa, trong đó các thành viên trong hộ gia đình đều có mức hữu dụng tối đa là như nhau.
Thu nhập được phân phối theo tỷ lệ thay thế biên giữa bất kỳ hai hàng hóa tiêu dùng nào là giống nhau đối với mọi thành viên. Thu nhập của mọi thành viên được gộp lại, sau đó mới phân phối cho từng thành viên theo nguyên tắc chung. Theo mô hình của Becker, sở thích của từng cá nhân giống với sở thích của hộ gia đình. Tuy nhiên, thực tế thì không hẳn như vậy.
Sở thích của cá nhân có thể giống, có thể khác so với sở thích của hộ. Thông thường, chủ hộ thường là người kiểm soát nguồn lực, là người quyết định việc phân phối nguồn lực cho các khoản chi tiêu của hộ gia đình. Sau đây là một thí dụ về mô hình nhu cầu của hộ do Becker (1960) đề xuất: U = U (N, Q, Z) Trong đó: U : lợi ích của hộ N : số con Q : chất lượng của con cái hay đầu tư vào mỗi đứa trẻ Z : lượng tiêu dùng của hộ. Đóng góp của di cư quốc tế đối với hộ gia đình 2.
Nguyên nhân thúc đẩy di cư quốc tế Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự di cư của con người. Người di cư có thể di chuyển nơi cư trú bởi những nguyên nhân như kinh tế, đoàn tụ gia đình, học tập, môi trường… Nhìn chung, trong mỗi nguyên nhân đó thường chứa đựng những nhân tố đẩy và hút người di cư. Nhân tố thúc đẩy người di cư gắn liền với đất nước Trang 9 mà họ đang muốn rời bỏ, thường là những vấn đề mà hậu quả của nó khiến con người muốn di chuyển đến nơi sinh sống mới. Ngược lại, sự hấp dẫn ở những nước/vùng có điều kiện phát triển sẽ là những nhân tố hút người di cư.
Về lý do kinh tế: Trước hết, di cư được xác định là do sự khác biệt về thu nhập, sức hấp dẫn giữa các nền kinh tế khác nhau. Mô hình Harris-Todaro (Harris-Torado Model) về mức thu nhập dự kiến cho rằng, những người tham gia vào thị trường lao động so sánh mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở khu vực thành thị (hay là cân nhắc chênh lệch giữa cái được và cái mất của việc di cư) với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn và sẽ di cư nếu như thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập hiện có. Điều kiện kinh tế thấp kém thường đi với những sự yếu kém về điều kiện của y tế và giáo dục. Trước tiên, hoạt động di cư có thể chỉ là chuyển dịch từ vùng kém phát triển sang những vùng phát triển hơn trong phạm vi lãnh thổ.
Nhưng thông thường thì kết quả của việc di cư trong nước không mấy khả quan vì điều kiện kinh tế yếu kém của cả nền kinh tế trên toàn lãnh thổ. Do đó dẫn tới hiện tượng di cư quốc tế. Vì vậy, có thể nói điều kiện kinh tế thấp kém và đói nghèo thúc đẩy tâm lý muốn ra đi của con người.