CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÚC LỢI VÀ SỰ GẮN KẾT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG VỚI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Chính sách phúc lợi cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Các nghiên cứu về bản chất và vai trò của phúc lợi cho người lao động trong doanh nghiệp Social Accountability International (2008), một hệ thống các tiêu chuẩn trách nhiệm giải trình xã hội để hoàn thiện các điều kiện làm việc cho NLĐ trong DN, trang trại hay văn phòng.3 quy định về phúc lợi cho NLĐ bằng cách khuyến cáo phúc lợi cho NLĐ phải được các DN quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng, được thực hiện dưới dạng văn bản và phải phù hợp với các quy định luật pháp hiện hành. Hệ thống này đã đưa ra yêu cầu như về thời gian làm việc, không được phép xử phạt người lao động bằng cách trừ lương, thưởng, không được yêu cầu người lao động nộp các giấy tờ tùy thân hoặc đặt cọc bằng tiền, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo… trong thực hiện phúc lợi xã hội cho NLĐ.
Trần Hữu Quang (2009), “Phúc lợi xã hội trên thế giới: quan niệm và phân loại”, đã nêu ra quan niệm của các tác giả trên thế giới về vấn đề phúc lợi xã hội và dừng lại ở việc đưa ra một số mô hình đánh giá phúc lợi như: mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng Bismarck; mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng Beveridge. Nguyễn Tiến Phú (2002), “Cơ sở lý luận cho việc định hướng thực hiện loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam trong thời gian tới”, đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung đối với bảo hiểm xã hội tự nguyên BHXHTN ở Việt Nam. Qua phân tích dữ liệu khảo sát nhu cầu tham gia BHXHTN đối với NLĐ thuộc các đối tượng dự kiến sẽ tham gia loại hình bảo hiểm này, tác giả đã đánh giá thực trạng một số mô hình BHXHTN và đưa ra những quan điểm, giải pháp và khuyến nghị cho việc định hướng thực hiện loại hình BHXHTN ở Việt Nam. Đề tài dừng lại ở việc nghiên cứu về nhu cầu tham gia BHXHTN, đưa ra những định hướng cho việc thực hiện BHXHTN ở Việt Nam trong những năm tiếp theo, chưa đề cập đến chính sách và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHXHTN.
Đỗ Thiên Kính (2006), “Hệ thống phúc lợi xã hội ở Nhật Bản và bài học cho Việt Nam”, đã phân tích quá trình chuyển đổi và phát triển chế độ phúc lợi xã hội ở Nhật Bản trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ II và đưa ra “mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Nhật Bản”. Tác giả đã phân tích khá chi tiết những vấn đề phúc lợi tại Nhật Bản. Phạm Thị Hồng Điệp (2012), “Những thách thức với các nhà nước phúc lợi châu Âu trong thế kỷ XXI” tác giả tập trung phân tích mô hình phúc lợi gắn liền với sự phát triển của một số nước Tây - Bắc Âu trong nhiều thập kỷ đã đem lại thịnh vượng và tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia này. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề về hiệu quả kinh tế và tính khả thi của các mô hình nhà nước phúc 5 lợi đã được đặt ra ngay tại các nước phát triển.
Cuộc khủng hoảng nợ công năm 2010 ở châu Âu tạo ra những thách thức cho các nhà nước phúc lợi. Mô hình nhà nước phúc lợi đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ và toàn diện để đáp ứng với tình hình mới mới. Trong nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ những đặc điểm cơ bản của các mô hình nhà nước phúc lợi châu Âu, phân tích những thành công và những thách thức của các mô hình này trong thế kỷ XXI, và chỉ ra một số xu hướng cải cách các mô hình nhà nước phúc lợi đang diễn ra hiện nay ở châu Âu. Nguyễn Đức Lộc (2013), “Hiện trạng và khả năng tiếp cận phúc lợi xã hội của người công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương, Việt Nam”.
Tác giả phân tích các dữ liệu khảo sát trách nhiệm phúc lợi xã hội (PLXH) của Nhà nước và DN đối với người công nhân đang làm việc tại các KCN tỉnh Bình Dương. Trong đó, nhìn nhận mối tương quan giữa trách nhiệm của Nhà nước, DN và quan niệm PLXH là một quyền lợi cơ bản mà mỗi công dân được hưởng. Xu hướng thay đổi của các hệ thống PLXH cho thấy hiện tượng “hàng hóa hóa” các dịch vụ bảo trợ xã hội đang diễn ra một cách thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, khi phân tích tác giả cho rằng PLXH đang dần trở thành những dịch vụ mà người dân muốn hưởng dụng thì phải bỏ tiền, thậm chí phải trả giá cao để mua được dịch vụ tốt.
Một hệ thống PLXH toàn diện sẽ cho thấy được nghĩa vụ của mỗi người đối với việc đảm bảo đời sống cho bản thân và cộng đồng. Mạc Văn Tiến (2018) “An sinh xã hội và Phúc lợi xã hội - các cách tiếp cận lý thuyết và thực tiễn”, đã nêu các cách tiếp cận giữa An sinh xã hội và Phúc lợi xã hội giữa lý thuyết và thực tiễn. Nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc phân tích sự cần thiết của phúc lợi xã hội. Vietnamworks và HR Ínsider (2016), “Báo cáo phúc lợi nhân viên 2016”, cho thấy tiền thưởng vẫn là phúc lợi mà người lao động Việt Nam đang quan tâm nhất.
Đứng ở góc độ nhà tuyển dụng, 5 phúc lợi mà họ cho rằng các nhân viên đang quan tâm nhất theo thứ tự bao gồm: chế độ thưởng, chế độ tăng lương, chế độ lương hấp dẫn, các loại bảo hiểm và các chương trình đào tạo. Trong đó, đứng đầu là chế độ thưởng, với 76% doanh nghiệp đồng tình. Khảo sát DN trong các ngành nghề IT, kế toán, quản trị kinh doanh… thì chế độ thưởng, chế độ tăng lương và chế độ lương hấp dẫn vẫn là những phúc lợi luôn nằm trong top 3. Có 86% doanh nghiệp IT nghĩ rằng chế độ thưởng là phúc lợi quan trọng nhất đối với người lao động; có đến 89% DN tuyển dụng nhân viên kế toán cho rằng chế độ lương, thưởng hấp dẫn và chế độ tăng lương là 3 phúc lợi quan trọng nhất với những nhân viên này.
Với ngành quản trị kinh doanh, các DN cho rằng, chế độ thưởng cũng rất cần thiết nhưng xếp sau 2 yếu tố là chế độ lương hấp dẫn và chế độ tăng lương. Như vậy, dù ở cấp độ nào thì chế độ thưởng vẫn được DN quan tâm hàng đầu. 6 Nhưng cũng có một số khác biệt nhỏ. Đối với các DN ít hơn 500 người, chế độ thưởng, tăng lương và chế độ lương hấp dẫn được chú trọng nhiều nhất.
Đối với doanh nghiệp trên 500 người, chế độ thưởng hấp dẫn và lương khởi điểm được quan tâm nhất. DN càng lớn càng quan tâm về mức lương khởi điểm nhưng ít quan tâm về chế độ tăng lương. Về phía người lao động, kết quả top 5 phúc lợi mà họ cho rằng quan trọng nhất cũng hoàn toàn trùng khớp với nhà tuyển dụng. Theo đó, chế độ thưởng hấp dẫn vẫn là phúc lợi đáng quan tâm nhất với 82% đồng tình.
Tiếp đó là chế độ tăng lương (80%), chế độ lương hấp dẫn (79%), các loại bảo hiểm (60%) và các chương trình đào tạo (53%). Trong các nhóm ngành thì các nhân viên ngành IT hưởng ứng chế độ lương hấp dẫn nhiều nhất, trong khi nhân viên ngành kế toán và quản trị kinh doanh lại quan tâm nhất về chế độ thưởng. Có thể thấy, các tài liệu nghiên cứu ở trên đã phân tích bản chất, phân loại phúc lợi cho NLĐ trong các DN; đã khẳng định phúc lợi xã hội là bảo vệ quyền của mỗi người dân như đã nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người; bảo hiểm xã hội nông dân, hợp tác xã và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân nói chung, tuy nhiên ít đề cập trực tiếp đến tác động của CSPL đến sự gắn kết của NLĐ với doanh nghiệp. Các nghiên cứu về thực trạng, giải pháp nâng cao phúc lợi cho người lao động trong doanh nghiệp Amartya Sen (2014), “ Social Choice and Social Welfare”, cho rằng con người luôn sinh sống theo các nhóm cộng đồng, và cuộc sống cá nhân của họ thường phụ thuộc vào quyết định của nhóm.
Nhưng việc đưa ra lựa chọn của nhóm có thể rất khó khăn do lợi ích và mối quan tâm của những thành viên trong nhóm thường khác nhau. Vậy thì quyết định tập thể nên được đưa ra dựa trên việc so sánh lợi ích và thiệt hại của những cá nhân và ghi nhận sự hài hoà tương đối của họ, đặc biệt là đối với việc đưa ra những đánh giá về PLXH. Việc làm cho những nền tảng thông tin cơ bản của dân chủ và tận dụng nhiều hơn sự tranh biện xã hội mang tính tương tác cho phép đánh giá PLXH một cách duy lý. Nghiên cứu trả lời các câu hỏi: Trong điều kiện nào thì nguyên tắc đa số đưa ra được những quyết định rõ ràng và nhất quán? Những biểu quyết khác nhau hiệu quả đến đâu trong việc đưa ra những kết quả thuyết phục? Làm thế nào để đánh giá được một xã hội về tổng thể tốt đẹp khi tính đến việc nó đáp ứng các lợi ích khác biệt của từng cá nhân ra sao? Trần Đình Liệu (2005) “Tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội trong các làng nghề ở Hải Dương - Thực trạng và giải pháp”.
Với việc phân tích thực trạng các làng nghề truyền thống của tỉnh Hải Dương tác giả đề xuất và kiến nghị về việc thực hiện chế độ BHXH cho NLĐ làm nghề tại các làng nghề truyền thống của tỉnh Hải Dương trên cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và phương án tổ chức thực hiện 7 BHXH đối với các làng nghề truyền thống ở Hải Dương. Cụ thể: Tác giả đề xuất về đối tượng tham gia, điều kiện đóng, phạm vi áp dụng và mức đóng, phương thức đóng, quyền lợi và điều kiện hưởng…. Với kế hoạch triển khai gồm các bước: Tổ chức tuyên truyền giáo dục, xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn, xây dựng hệ thống đại lý, tổ chức hướng dẫn triển khai thực tế tại địa phương, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Đồng Quốc Đạt (2008), “Bảo hiểm xã hội khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, cho rằng, do thiếu hiểu biết thông tin về chính sách, chế độ BHXH nên NLĐ không tham gia.