chương 1. Từ những phân tích ở trên cho thấy, đối với nhóm các phương pháp lý thuyết thông thường được sử dụng để tính toán xác định sơ bộ sức chịu tải của cọc đơn. Để xác định một cách chính xác sức chịu tải của cọc đơn cần phải thông qua các thí nghiệm trực tiếp ngoài hiện trường. Trong đó, phương pháp nén tĩnh đầu cọc là một trong những phương pháp cho kết quả sát với thực tế sự làm việc của cọc hơn cả.
Tuy nhiên, phương pháp này khối lượng công việc lớn, đối với những cọc có sức chịu tải lớn hay mặt bằng khó khăn thì khó thực hiện. 10 Phương pháp tự cân bằng là một trong những phương pháp mới phổ biến trong những năm gần đây, có nhiều ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của phương pháp truyền thống, xu thế sẽ dần thay thế các phương pháp truyền thống. Do vậy, trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ tập trung làm rõ phương pháp, qui trình thí nghiệm cũng như phân tích kết quả của phương pháp này. Nguyên lý thực hiện, cơ chế truyền tải và cách xác định sức chịu tải của cọc bằng phương pháp tự cân bằng 2.
Nguyên lý cơ bản Mục đích của phương pháp thí nghiệm tự cân bằng là đi xác định sức kháng bên và sức kháng mũi của cọc thông qua một hộp tải trọng gồm các kích thủy lực được đặt trong thân cọc. Tùy theo điều kiện và yêu cầu của thí nghiệm, thiết bị này được đặt tại một cao trình (thường được đặt ở đáy cọc) hoặc tại nhiều cao trình trên chiều dài thân cọc thí nghiệm. Sơ đồ nguyên lý thí nghiệm tự cân bằng Sau khi bê tông đổ cọc đạt cường độ theo yêu cầu thiết kế người ta gia tải bằng việc bơm chất lỏng để tạo áp lực cho hệ kích đặt trong hộp tải. Với nguyên lý này, đối trọng dùng cho việc thử được tạo bởi chính trọng lượng bản thân cọc và sức kháng thành bên của cọc.
Khi làm việc, kích tạo ra lực đẩy tác dụng vào thân cọc theo hướng ngược lên đồng thời tạo lực ép xuống tại mũi cọc. Các chuyển vị lên của thân cọc và chuyển vị xuống của phần mũi cọc được các đồng hồ ghi lại tương ứng với mỗi thời điểm của quy trình gia tải. Sơ đồ thí nghiệm được thể hiện như hình 2. Kết quả thu được sẽ là các biểu đồ quan hệ chuyển vị và tải trọng cho mũi cọc và đỉnh cọc được xây dựng độc lập.
thí nghiệm được kết thúc khi đạt đến sức ma sát giới hạn hoặc sức kháng mũi giới hạn. 11 Từ hình vẽ cho thấy, sức chịu tải của cọc gồm tổng các lực ma sát của phần cọc bên trên hộp tải Qt và sức kháng mũi phần cọc bên dưới hộp tải Qd. Khi tạo lực Q trong hộp, theo nguyên lý về cân bằng lực, một lực Q truyền lên trên thân cọc và hướng lên trên cân bằng bởi lực ma sát thân và trọng lượng bản thân của cọc G. Một lực khác hướng xuống dưới và được chống lại bởi sức kháng của đất nền dưới mũi cọcError: Reference source not found.
Do vậy ta luôn có: Q = (G + Qt) < G + Qtgh (2.1) gh Hay: Q = (Qd) < Qd (2.2) Cọc thí nghiệm đạt đến trạng thái phá hoại khi đạt đến trạng thái cân bằng của hai biểu thức trên. Do kết quả thu được là hai biểu đồ tải trọng - chuyển vị mũi cọc và đầu cọc độc lập nhau nên để sử dụng và so sánh với với thử tải truyền thống phải dựng được biểu đồ tải trọng chuyển vị tương đương như trong thử tải tĩnh truyền thống. Theo tiêu chuẩn J/T 738 -2009 Bộ Giao thông Trung Quốc thì sức chịu tải của cọc đơn được và chuyển vị được qui đổi như sau: Q = (Qt –G)/K - Qd (2.4) Trong đó: Q - là sức chịu tải của cọc đơn được qui đổi theo phương pháp chất tải; Qt - là giá trị ma sát dọc thân cọc; Qd - là sức kháng đầu mũi cọc; S - là chuyển vị của cọc được qui đổi theo phương pháp chất tải; S- - là giá trị chuyển vị đoạn mũi cọc; S+ - là chuyển vị mũi và đỉnh cọc; K - là hệ số điều chỉnh tùy thuộc vào từng loại đất trên hộp tải, đối với loại đất sét K = 0,8; đất loại cát K=0,7; đối với đá K=1, nếu bên trên gồm nhiều tầng đất khác nhau thì lấy giá trị trung bình. Xác định vị trí đặt hộp tải Vị trí đặt hộp tải trọng trong thân cọc là một trong phần then chốt cho sự thành công của thí nghiệm tự cân bằng.
Phương pháp này đưa ra khái niệm điểm cân bằng, vị trí tại đó sức chịu tải của đoạn cọc bên trên hộp tải (trọng lượng bản thân cọc, sức kháng thành) và sức chịu tải của đoạn cọc bên dưới hộp tải (sức kháng mũi với sức kháng thành đoạn cọc dưới) là bằng nhau. Sơ đồ vị trí đặt hộp tải Hiện nay, để xác định vị trí đặt hộp tải trọng trong cọc chủ yếu được dựa vào tài liệu khảo sát hiện trường, từ đó đi xác định lực ma sát giữa cọc và các lớp đất từ đó tìm ra điểm cân bằng. Hay nói cụ thể hơn, khi tiến hành thí nghiệm đoạn cọc bên trên khi chịu tác dụng của các kích trong hộp tải sẽ chuyển vị lên trên và chịu phản lực đoạn cọc dưới (sức kháng mũi và thành); đối với đoạn cọc dưới cũng tương tự như vậy, dưới tác dụng các kích trong hộp tải khiến đoạn cọc chuyển vị xuống dưới và chịu tác dụng của đoạn cọc trên (sức kháng thân và trọng lượng bản thân cọc). Đây chính là điểm cần tìm để sơ bộ xác định vị trí lắp đặt hộp tải.
Tuy nhiên, khi sử dụng các tài liệu khảo sát và kinh nghiệm để tìm vị trí hộp tải thường tồn tại những sai số nhất định. Có thể do một trong hai đoạn cọc đạt tới trạng sức chịu tải giới hạn, mà đoạn kia chưa đạt tới, nhưng cọc đã bị phá hoại. Nếu tiếp tục gia tải đến cấp tải trọng thí nghiệm cuối cùng và sử dụng kết quả này làm sức chịu tải giải hạn của cọc là không hoàn toàn chính xác. Do vậy, cần phải xác định vị trí cân bằng một cách xác, thông qua các công trình thực tế có những trường hợp sau: + Trường hợp sức kháng mũi lớn hớn sức kháng thành: có thể bố trí hộp trải ở đáy cọc kết hợp phương pháp chất tải truyền thống để bổ sung thêm cho phần sức kháng thành.
+ Trường hợp sức kháng thành lớn hơn sức kháng mũi: hộp tải nên bố trí ở phần giữa cọc để sức kháng thân đoạn cọc trên cân bằng với sức kháng mũi và kháng thành đoạn cọc dưới. Tuy nhiên, điểm này cũng chỉ có thể xác định được một cách tương đối theo phương pháp lý thuyết. Đây cũng chính là điểm mà phương pháp tự cân bằng cần phải hoàn thiện hơn trong tương lai. Các dạng đặt vị trí hộp tải khác Thông qua các kết quả nghiên cứu từ công trình thực tế cho thấy, vị trí đặt hộp tải phụ thuộc vào điều kiện làm việc của cọc, tải trọng thí nghiệm, Error: Reference source not found….Qua thống kê có các dạng vị trí hộp tải được đặt như thể hiện trong hình 2.
Các dạng vị trí đặt hộp tải trọng Hình 2.a: Đây là vị trí́ lắp đặt hộp tải trọng phổ biến nhất, sau khi đã đổ một lượng nhỏ bê tông lên đáy lỗ khoan để làm chỗ tựa vững chắc của hộp, hộp tải trọng sẽ được đặt lên và tiếp tục đổ bê tông thân cọc. Vị trí này phù hợp khi: (1) giá trị sức kháng thành sức kháng mũi tính toán là gần bằng nhau; (2) sử dụng khi sức kháng mũi tính toán lớn hơn nhiều so với sức kháng thành bên; (3) khi chỉ cần xác định sức kháng thành bên giới hạn.b: Nếu muốn xác định cả hai thành phần tới hạn của sức chống mũi và sức kháng thành bên thì hộp tải trọng được đặt cách đáy cọc một khoảng xác định nào đó. Nếu khoảng cách này được xác định một cách chính xác thì khi đạt tới sức kháng thành bên tới hạn bên trên hộp tải trọng thì sức kháng thành bên đoạn cọc bên dưới cộng với sức chống mũi cũng đạt tới giá trị tới hạn. Mặc dù không thể xác định được vị trí chính xác vị trí đặt hộp tải trọng nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng khi tải trọng hướng lên trên hay tải trọng hướng xuống dưới đạt đến giá trị tới hạn thì thường tải trọng kia đạt gần tới giá trị tới hạn của nó.c: Vị trí đặt hộp tải này thích hợp khi xác định sức kháng thành và sức kháng mũi của cọc được đặt trong nền đá.
Với cách đặt này kết quả thu được không bao gồm sức kháng thành của tầng phủ bên trên. Để xác định được sức kháng thành bên của tầng phủ bên trên, quá trình đổ bê tông được chia thành hai lần. Lần thứ nhất đổ bê tông đến hết tầng đá bên dưới sau đó tiến hành thí nghiệm, sau khi kết thúc thí nghiệm tiến hành đổ bê tông cho đến hết lớp đất phủ bên trên sau đó làm lại thí nghiệm một lần nữa.d: Với cách lặp đặt này chủ yếu để đi xác định sức chịu tải của cọc mở rộng đáy.e: Thích hợp với các cọc có cao độ đỉnh cọc thấp hơn cao độ mặt đất một khoảng nhất định như các công trình nhà cao tầng có nhiều tầng hầm thường sử dụng loại cọc này. Khi đó có thể dẫn ống dầu thủy lực và các thanh đo chuyển vị từ hộp tải lên trên mặt đất.f: Cách đặt hộp tải này được thực hiện khi cọc được thí nghiệm có chiều dài tương đối sâu, trong khi sức chịu tải của cọc là khá lớn, một hộp tải không thể bố trí được hết các kích để có thể đạt tới tải trọng yêu cầu thí nghiệm.
Một hộp tải được đặt bên dưới và một hộp tải được đặt bên trên thân cọc. Khi tiến hành thí nghiệm sẽ tiến hành nén hộp tải bên dưới để xác định sức chịu tải của đoạn cọc dưới, sau đó nhả tải và tiến hành gia tải cho hộp tải bên trên để xác định sức chịu tải của đoạn cọc trên. Phương pháp và trình tự thí nghiệm tự cân bằng 2. Cấp tải thí nghiệm, quy trình gia tải và giảm tải (1) Quy trình gia tải Mỗi cấp tải thường có áp lực là 10%P là tải trọng yêu cầu thí nghiệm (cũng có thể lựa chọn cấp tải ban đầu có trị số nhỏ hơn hoặc bằng 5%P).