Luận án tiến sĩ về quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam trên báo mạng điện tử

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng và thách thức trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam trên báo mạng điện tử.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

206
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN CỦA CÔNG DÂN

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN CỦA CÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ THỰC HIỆN TỐT HƠN QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN CỦA CÔNG DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam

Quyền tự do ngôn luận (quyền tự do ngôn luận) là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam. Quyền này không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của toàn xã hội, giúp công dân có thể bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về các vấn đề xã hội. Trong bối cảnh báo mạng điện tử (báo mạng điện tử) phát triển mạnh mẽ, quyền tự do ngôn luận càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Theo Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến, tuy nhiên, quyền này cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho báo chí và công dân trong việc thực hiện quyền này một cách hiệu quả và hợp pháp.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quyền tự do ngôn luận

Quyền tự do ngôn luận được hiểu là quyền của công dân được tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình mà không bị cản trở. Điều này không chỉ giúp công dân tham gia vào các vấn đề xã hội mà còn tạo ra một môi trường thông tin phong phú, đa dạng. Trong bối cảnh hiện nay, báo mạng điện tử đã trở thành một kênh thông tin quan trọng, giúp công dân dễ dàng tiếp cận thông tin và tham gia vào các cuộc thảo luận xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc đảm bảo tính chính xác và hợp pháp của thông tin được đăng tải.

II. Thực trạng quyền tự do ngôn luận trên báo mạng điện tử

Thực trạng quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù có nhiều cơ hội để công dân bày tỏ ý kiến, nhưng vẫn tồn tại những rào cản về mặt pháp lý và thực tiễn. Các quy định của pháp luật về báo chí và quyền tự do ngôn luận đôi khi còn chưa rõ ràng, dẫn đến việc các cơ quan báo chí có thể bị áp lực trong việc đăng tải thông tin. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng tạo ra những thách thức mới, khi mà thông tin có thể bị thao túng hoặc sai lệch, gây khó khăn cho công dân trong việc tiếp cận thông tin chính xác.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử. Đầu tiên là các quy định pháp lý, trong đó có Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành. Những quy định này cần phải được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn phát triển của báo chí và nhu cầu của công dân. Thứ hai, ý thức và trình độ văn hóa của công dân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền này. Công dân cần có khả năng phân tích, đánh giá thông tin để có thể tham gia vào các cuộc thảo luận một cách hiệu quả. Cuối cùng, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng tạo ra những cơ hội và thách thức mới cho quyền tự do ngôn luận.

III. Đề xuất giải pháp thúc đẩy quyền tự do ngôn luận

Để thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử, cần có những giải pháp đồng bộ từ cả phía nhà nước và xã hội. Trước hết, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến báo chí và quyền tự do ngôn luận, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc thực hiện quyền này. Thứ hai, cần nâng cao nhận thức của công dân về quyền tự do ngôn luận, giúp họ hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Cuối cùng, các cơ quan báo chí cần chủ động tạo ra các kênh thông tin để công dân có thể dễ dàng bày tỏ ý kiến, đồng thời đảm bảo tính chính xác và khách quan của thông tin được đăng tải.

3.1. Cải cách pháp lý

Cải cách pháp lý là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy quyền tự do ngôn luận. Cần xem xét lại các quy định hiện hành, đảm bảo rằng chúng không cản trở quyền tự do ngôn luận của công dân. Các quy định cần phải rõ ràng, cụ thể và dễ hiểu, giúp công dân có thể thực hiện quyền của mình một cách hợp pháp. Đồng thời, cần có các cơ chế giám sát và bảo vệ quyền lợi của công dân khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo mạng điện tử.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu; Tổng quan tình hình nghiên cứu; Nội dung chính của luận án gồm 3 chương, 10 tiết; Kết luận; Các công trình khoa học đã công bố của tác giả luận án có liên quan đến đề tài luận án; Tài liệu tham khảo; Phụ lục. luan an 15 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Với mục đích kế thừa được tri thức khoa học liên ngành để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay, tác giả luận án đã cố gắng sưu tầm, hệ thống, nghiên cứu, đánh giá một cách trung thực nhất (trong phạm vi có thể) các công trình nghiên cứu của nước ngoài và của Việt Nam có liên quan, gần gũi với đề tài. Số lượng tài liệu tiếp cận được cũng khá nhiều, tuy nhiên, do quy định về hạn chế dung lượng của luận án (chỉ được 150 trang chính văn), cho nên, tác giả luận án chỉ chọn lọc giới thiệu một số tác giả và tác phẩm theo từng góc độ nghiên cứu. Khái quát tình hình nghiên cứu 1.

Hướng nghiên cứu quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Nhóm 1: Những công trình là Sách - Trên thế giới: * Tiếp cận từ góc độ triết học và chính trị học Có một số tác giả và tác phẩm nổi bật, như: John Locke (1632 - 1704): Two Treatises of Gouverment (1989); Montesquieu (1689 - 1755): De L’esprit Des Lois (1748); Jean Jacques Rousseau (1712 -1778): The Social Contract (1750); Claude Frederic Bastiat (1801 - 1850): The Law (1850); Alexis De Tocqueville (1805 - 1859): De la Démoncratie en Amérique (1835); John Stuart Mill (1806 - 1873): On Liberty (1859),. Có thể điểm qua một vài tác phẩm: Trong cuốn sách On Liberty (Bàn về tự do), (2005), John Stuart Mill đề cập tập trung nhất đến quyền tự do của cá nhân con người, trong đó, có QTDNL. Quan niệm của John Stuart Mill về quyền tự do của con người: tự do là quyền tuyệt đối và vô điều kiện và có 5 loại tự do: (i) tự do tư tưởng; (ii) tự do tôn giáo; (iii) tự do ngôn luận; (iiii) tự do mưu cầu hạnh phúc); (iiiii) tự do hội họp;. Không có xã hội tự do, nếu trong xã hội đó các quyền tự do trên luan an 16 không được tôn trọng về toàn thể, bất kể hình thức cai trị của xã hội này là gì;.

Không một ai, kể cả nhà nước cũng không thể ban phát hay tùy tiện tước bỏ những quyền đó của con người. Mill dành toàn bộ chương 2 [33, tr. 49 - 131] để bàn về Tự do tư tưởng và Tự do thảo luận. Đây là 2 quyền tự do quan trọng của con người trong một xã hội dân chủ.

Con người phải được tự do hình thành ý kiến và tự do bày tỏ ý kiến không chút giấu diếm, bởi phải có thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra sao. Mọi sự ngăn cản tự do thảo luận đều không nên, bởi chẳng ai có thể chắc chắn được rằng, ý kiến của một người đang đối lập với ý kiến của tất thảy mọi người, là sai lầm. Ở nơi nào có sự quy ước ngầm rằng, các nguyên lý là điều không thể bàn cãi, thì hệ quả tất yếu là sẽ không còn thảo luận. Rải rác trong toàn bộ tác phẩm, J.

Mill đã đề cập đến vấn đề TDNL, tuy nhiên, ông chưa đưa ra một khái niệm cụ thể, hoặc nội dung QTDNL. Mặt khác, với cách nhìn tự do là một quyền tự nhiên (quyền tuyệt đối), J. Mill cũng đã tự mâu thuẫn khi bàn về giới hạn của tự do. Ông cho rằng, tự do của mỗi người đều có giới hạn là không được xung đột với tự do của người khác, với tự do của quốc gia (pháp luật), của toàn xã hội.

Xã hội và pháp luật chỉ bảo đảm tự do cho một người khi người đó đủ tuổi trưởng thành, có trí sáng suốt bình thường để chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Bàn về tự do đã được J. Mill viết ra từ hàng trăm năm trước, do đó cũng có những góc nhìn về bối cảnh xã hội không còn phù hợp với ngày nay, tuy nhiên, triết lý về quyền tự do của con người của ông đã được các thế hệ sau đánh giá cao, kế thừa trong nhiều nghiên cứu. Chắt lọc tri thức trong toàn bộ tác phẩm của ông, tác giả luận án rút ra một số luận điểm chính để kế thừa cho luận án, như: (i) QTDNL thuộc về quyền tự nhiên (bẩm sinh), nằm trong quyền tự do của con người, tuy nhiên, khi thực hiện quyền này phải trong giới hạn nhất định; (ii) Tư tưởng (quan điểm, ý kiến) được biểu đạt dưới hình thức ngôn luận là lời nói và viết ra (văn tự).

Alexis De Tocqueville, (2017), De la démocratie en Amérique ( Nền dân trị Mỹ): Có thể xem Nền dân trị Mỹ là một công trình khoa học đồ sộ, một bản phân tích đa chiều, những đánh giá nghiêm khắc, sâu sắc và tổng hợp luan an 17 về ưu điểm, khuyết điểm của nền dân trị và những dự báo khá thú vị về tương lai của hình thức nhà nước dân chủ. Có thể điểm qua những phần có liên quan đến nội dung của luận án. Thứ nhất, Alexis De Tocqueville nghiên cứu bản chất của nền dân trị là: dân làm chủ, chính quyền (nhà nước) hoàn toàn là của dân, vì dân, do dân (bầu theo phổ thông đầu phiếu). Thứ hai, trong xã hội dân chủ, người dân được tự do, bình đẳng trước pháp luật, có QTDNL.

Thứ ba, công dân - chủ thể QTDNL, được ông định nghĩa khá độc đáo: Những con người có “lối sống dân chủ” là con người có quyền uy chính trị, có quyền uy tôn giáo, có tinh thần yêu nước, có đầu óc phê phán, có quyền tự do báo chí và QTDNL, có thể nhân danh “quyền công dân” để phản đối một đạo luật nào đó, có lối sống thực dụng. Những người dân chủ dễ bị truyền thông và dư luận xã hội tác động, dẫn dắt tư duy và hành động. Alexis De Tocqueville cũng đã gián tiếp nhắc đến vai trò của truyền thông là dẫn dắt công dân ngôn luận theo một mục đích nào đó. Đây là quan niệm mà luận án có thể kế thừa.

* Tiếp cận từ góc độ luật học: Cuốn sách De L’esprit Des Lois (Bàn về tinh thần luật pháp), (2018), của Montesquieu, gồm 31 quyển, giới thiệu và bàn luận về luật pháp của một quốc gia dân chủ. Đặc biệt, trong quyển XII với tiêu đề Các luật tạo ra tự do chính trị trong mối quan hệ với công dân, ông chỉ ra một hạn chế là, có khi Hiến pháp thì tự do nhưng công dân thì chẳng tự do chút nào. Tuy không đề cập cụ thể đến QTDNL nhưng Montesquieu đã phần nào đề cập đến tính chất của lời nói khi luật pháp xem xét để định tội một người nào đó. Nếu ai đó có hành vi nói năng chống đối nhà nước, hoặc kêu gọi người khác chống đối nhà nước, thì người đó sẽ bị xử phạt vì hành vi chống đối nhà nước bằng lời nói, chứ không phải bị xử phạt vì lời nói.

Đây là một luận điểm rất có giá trị, tác giả luận án có thể kế thừa cho công trình nghiên cứu của mình. Năm 1945, Liên Hợp Quốc ra đời và sau đó công bố một số văn kiện pháp lý mang tính quốc tế về quyền con người, trong đó, có một vài văn kiện có quy định về QTDNL. luan an 18 Văn kiện quốc tế Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR, 1948), quy định về quyền tự do trong tổng số 12 Điều/ 30 Điều, như: 1, 2, 3, 12, 13, 16, 18, 19, 20, 27, 28, 29, gồm các quyền tự do cụ thể, trong đó, QTDNL được quy định ở Điều 19. Theo quy định này, QTDNL gắn liền với tự do quan điểm (tư tưởng), tuy nhiên, quy định này cũng chưa thật tách bạch rõ ràng về TDNL và tự do tư tưởng nên dễ gây nhầm lẫn trong nhận thức và trong thực hiện.

Văn kiện quốc tế Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR, năm 1966), quy định về quyền tự do trong tổng số 11 Điều/53 Điều, như: 1, 9, 10, 12, 17, 18, 19, 20, 22, 23, 25. QTDNL được quy định trong Khoản 2, Điều 19. Như vậy, theo hai văn kiện UDHR năm 1948 và ICCPR năm 1966 này thì QTDNL không chỉ bó hẹp ở quyền được nói ra, viết ra quan điểm, thông tin của mình, mà còn mở rộng rất nhiều, đó là (i) quyền tìm kiếm tư tưởng, thông tin; (ii) quyền tiếp nhận tư tưởng, thông tin. Từ những quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế này, mỗi quốc gia lại tự điều chỉnh theo điều kiện và tình hình cụ thể của nước mình mà các nước thành viên Liên Hợp Quốc không có quyền can thiệp.

Tuy nhiên, trong các văn bản pháp lý quốc tế của Liên Hợp Quốc cũng quy định rõ: quyền tự do ngôn luận là quyền không tuyệt đối, có thể bị hạn chế hoặc tạm đình chỉ. * Tiếp cận từ góc độ báo chí học Trong cuốn sách The Professional Journalism (Ký giả chuyên nghiệp), (1974), dựa trên thực tế làm nghề trong nhiều năm, John Hohenberg đã giới thiệu khái quát về nghề làm báo, phẩm chất đạo đức cần có để giao tiếp với công chúng. Đan xen vào những kiến thức lý thuyết và kỹ năng nghề báo, John Hohenberg cho rằng, luật pháp đảm bảo cho TDNL sẽ không cho phép một công dân la làng một cách dối trá; không cho phép một lãnh tụ chính trị xúi dục dân chúng nổi loạn; luật pháp và luật lệ (dù quốc gia hay địa phương) đều có giá trị chi phối bất cứ cơ quan báo chí nào. Đây là những tri luan an 19 thức có giá trị mà tác giả luận án có thể kế thừa khi xem xét thực trạng hành vi BMĐT thực hiện QTDNL của công dân.

李树桥:《公民表达权:政治体制改革的前提》,《中国改革杂 志》,2007 年第 12 期。( Lý Thư Kiều, Quyền biểu đạt của công dân: tiền đề cải cách thể chế chính trị, Tạp chí cải cách Trung Quốc, số 12, 2007). Trên cơ sở nghiên cứu đường lối của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác giả cho rằng, tự do ngôn luận thuộc về phạm trù tự do tinh thần, trong phổ hệ “nhân quyền”. Trong xã hội dân chủ, tự do ngôn luận có vị trí hạt nhân. Nếu không có tự do ngôn luận, thì không thể nói đến tự do tinh thần.

Tự do ngôn luận là con đường thực hiện giá trị cá nhân của mỗi người, cũng là cách thức chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam trên báo mạng điện tử" của tác giả Nguyễn Thị Hằng Thu, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Đỗ Thị Thu Hằng, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2022. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đánh giá thực trạng quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam trong bối cảnh báo mạng điện tử hiện nay. Nó không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các vấn đề pháp lý liên quan mà còn chỉ ra những thách thức mà công dân phải đối mặt khi thực hiện quyền này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà báo mạng điện tử có thể trở thành công cụ hỗ trợ cho quyền tự do ngôn luận, cũng như những khía cạnh pháp lý cần được cải thiện.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến quyền khiếu nại và các vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất, hay Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu ứng dụng công nghệ để nâng cao kỹ năng nói cho sinh viên tại Đại học Luật Hà Nội, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc ứng dụng công nghệ trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ. Cuối cùng, Thái độ của sinh viên Đại học Luật Hà Nội đối với việc tự học tiếng Anh pháp luật cũng là một tài liệu thú vị, liên quan đến việc học tập và phát triển ngôn ngữ trong lĩnh vực pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề pháp lý và quyền tự do ngôn luận trong xã hội hiện đại.