Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học (mã số 9 32 01 01) với đề tài "Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hằng Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Đỗ Thị Thu Hằng, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt lý luận, quyền tự do ngôn luận là một quyền tự do nền tảng của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948, Điều 19 và Điều 29 Khoản 2 về giới hạn pháp lý), Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966, Điều 19 Khoản 2), cũng như Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 (Điều 10 Chương II) qua các lần sửa đổi. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập, vấn đề xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về việc báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân theo đặc thù thể chế chính trị - xã hội Việt Nam vẫn còn những khoảng trống học thuật cần được luận giải tường minh.

Về mặt thực tiễn, tính đến ngày 24/12/2021, Việt Nam có 816 cơ quan báo chí, trong đó có 29 cơ quan báo mạng điện tử và tạp chí điện tử độc lập, phần lớn các cơ quan báo chí đều phát triển chuyên trang điện tử. Với ưu thế siêu văn bản (hypertext), đa phương tiện (multimedia) và khả năng tương tác trực tiếp, báo mạng điện tử trở thành kênh giao tiếp xã hội quan trọng. Tuy nhiên, việc đánh giá thực trạng báo mạng điện tử thực hiện chức năng làm diễn đàn ngôn luận cho người dân theo luật định, cũng như việc phân tích hành vi tham gia của công dân trên môi trường số vẫn chưa được khảo cứu có hệ thống ở quy mô một luận án tiến sĩ báo chí học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ và bước đầu xây dựng khung lý thuyết về báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân; khảo cứu, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động này tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019 (tiếp nối đến năm 2021); từ đó đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm năm nội dung:

  1. Nghiên cứu tổng quan tài liệu trong nước và quốc tế để chắt lọc cơ sở học thuật liên quan.
  2. Làm rõ bản chất quyền tự do ngôn luận của công dân, phân biệt tự do ngôn luận thông thường và tự do ngôn luận trên báo chí.
  3. Xác lập khung lý thuyết và hệ tiêu chí đánh giá thực trạng báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân.
  4. Khảo cứu thực trạng qua các trường hợp báo mạng điện tử điển hình (khảo sát trọng tâm báo VnExpress và một số cơ quan báo chí chính thống) từ năm 2015 đến năm 2019, cập nhật đến năm 2021.
  5. Đúc kết những vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị chính sách.

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết 1: Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân không phải với tư cách cơ quan tư pháp mà thông qua các phương thức nghiệp vụ báo chí để đáp ứng ba nội dung quyền cơ bản theo luật định: (i) "Quyền được biết thông tin từ báo chí" thông qua cung cấp thông tin trung thực, khách quan; (ii) "Quyền tự do nói trên báo chí" thông qua việc tạo lập diễn đàn trao đổi, bình luận; (iii) "Quyền tự do khiếu nại, tố cáo trên báo chí" thông qua việc tiếp nhận, xử lý và chuyển cơ quan thẩm quyền giải quyết đơn thư bạn đọc.
  • Giả thuyết 2: Chất lượng thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử chịu sự chi phối của bốn yếu tố chủ yếu: phẩm chất và năng lực chuyên môn của đội ngũ người làm báo; trình độ văn hóa và ý thức pháp luật của công dân; sự hoàn thiện của cơ sở pháp lý và chính sách đối thoại của Nhà nước; nền tảng công nghệ, công cụ tương tác kỹ thuật của tòa soạn.
  • Giả thuyết 3: Báo chí thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân là biểu hiện bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vận hành trên nền tảng truyền thống lịch sử, văn hóa và tâm lý dân tộc.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay.
  • Khách thể nghiên cứu: Công dân Việt Nam (những người mang quốc tịch Việt Nam tham gia thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát các cơ quan báo mạng điện tử chính thống được cấp phép tại Việt Nam, nằm trong nhóm có lượng truy cập lớn (top 10 theo xếp hạng của Alexa), trọng tâm là VnExpress (vnexpress.vn) cùng các đối tượng đối sánh như VietnamNet (vietnamnet.vn), Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn), Nhân Dân điện tử (nhandan.vn), Dân Trí (dantri.com.vn). Các nền tảng truyền thông xã hội chỉ đóng vai trò tham chiếu.
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu thực chứng giai đoạn 2015–2019 (tương ứng nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII), theo dõi cập nhật đến năm 2021; kết hợp khảo cứu khái lược bối cảnh lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung chính:

Hướng nghiên cứu về quyền tự do ngôn luận trên báo chí

  • Góc độ triết học và chính trị học: John Locke (1989), Montesquieu (1748), Jean-Jacques Rousseau (1750), Claude Frédéric Bastiat (1850), Alexis de Tocqueville (2017) với công trình De la Démocratie en Amérique (phân tích bản chất dân trị, vai trò của truyền thông trong việc định hướng công chúng), John Stuart Mill (2005) với On Liberty (luận giải về tự do tư tưởng, tự do thảo luận và nguyên lý giới hạn của tự do cá nhân). Ở Việt Nam, tác giả Phạm Minh Lăng (triết học phương Tây về tự do), Chủ tịch Hồ Chí Minh (Toàn tập, Tập 7, quan điểm về quyền tự do tư tưởng gắn liền với chân lý và dân chủ), Nguyễn Văn Động (2014, quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân).
  • Góc độ luật học: Các văn kiện quốc tế (UDHR 1948, ICCPR 1966); hệ thống pháp luật thời kỳ thuộc Pháp (Sắc luật ngày 30/12/1898, Sắc luật ngày 04/10/1927), thời kỳ chính quyền Việt Nam Cộng hòa (Luật 019/69, Luật 007/72); các đạo luật của Nhà nước Việt Nam (Hiến pháp, Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật An ninh mạng, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo). Đỗ Quý Dân nghiên cứu pháp luật Hoa Kỳ về chế tài đối với hành vi phỉ báng (defamation).
  • Góc độ báo chí, văn hóa, tâm lý và ngôn ngữ: John Hohenberg (1974) với The Professional Journalism; Lý Thư Kiều (2007) bàn về quyền biểu đạt của công dân; Đặng Du (2011) với Truyền thông hội tụ và quyền tự do ngôn luận; Nguyễn Văn Dững (2011) với Báo chí truyền thông hiện đại; Mai Quỳnh Nam (2010) bàn về quyền được biết thông tin của nhân dân; William Essex (2009) về kỹ năng trích dẫn phát ngôn; Gustave Le Bon (2016) với La psychologie des foules (Tâm lý học đám đông); Đỗ Thị Thu Hằng (2013) về tâm lý học giao tiếp báo chí và phương pháp tiếp cận dựa trên quyền; Đặng Thị Thu Hương (2016) về văn hóa truyền thông đại chúng; Nguyễn Kim Thản (2016) về văn hóa ngôn ngữ giao tiếp.

Hướng nghiên cứu về báo mạng điện tử và chức năng diễn đàn

  • Nghiên cứu quốc tế: Fred S. Siebert, Theodore Peterson, Wilbur Schramm (2015) với Four Theories of the Press (Bốn học thuyết truyền thông: Độc đoán, Tự do, Trách nhiệm xã hội, Toàn trị Xô Viết); Philippe Breton và Serge Proulx (1996) với lý thuyết "không gian công" (l'espace public); E. Prokhorov (2004) về tính nhân dân và cơ sở lý luận báo chí; Michel H. Jackson và Nora Paul (1998) nghiên cứu xuất bản báo chí điện tử; Crawford Kilian (1999) về viết cho web; Mike Ward (2001) với Journalism Online (vai trò của bình luận độc giả); Eric Schmidt và Jared Cohen (2014) về sự tái phân bổ quyền lực thông tin thời đại số; Bill Kovach và Tom Rosenstiel (2013) về kiểm soát quyền lực và nguy cơ sai lệch diễn đàn số; Mark Deuze (1998) và Colleen M. Keough, Thora Christiansen (1999) về đặc trưng mô hình báo mạng điện tử.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Tạ Ngọc Tấn (2001, 2005) về lý luận truyền thông đại chúng và nghịch lý xung đột chức năng; Nguyễn Thị Thoa (2007) về tổ chức quản lý báo mạng điện tử và tính năng tương tác; Nguyễn Thị Trường Giang (2011) về quy trình sản xuất thông tin báo mạng điện tử; Huỳnh Văn Thông và nhóm tác giả (2015) trong Giáo trình báo trực tuyến; các công trình đào tạo chuyên ngành của Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (2005), Nguyễn Văn Hà (2012), Nguyễn Thành Lợi (2014); luận án của Triệu Thanh Lê (2015), Nguyễn Thành Công (2011); luận văn của Trần Quang Huy (2006) về hoạt động tương tác trực tuyến; bài viết của Vũ Quỳnh về trách nhiệm tôn trọng sự thật khách quan.

Khoảng trống luận án giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên cung cấp nền tảng tri thức đa ngành, chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện, toàn diện và chuyên sâu ở cấp độ luận án tiến sĩ về việc báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam trong bối cảnh truyền thông số. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng khung phân tích ba nhóm quyền cụ thể, khảo cứu định lượng kết hợp định tính thực trạng tại Việt Nam và đưa ra hệ thống giải pháp gắn với thực tiễn quản lý báo chí quốc gia.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về quyền con người và báo chí. Cơ sở lý thuyết tích hợp tri thức liên ngành giữa báo chí học, luật học, xã hội học và tâm lý học truyền thông (tiếp cận dựa trên quyền, lý thuyết không gian công, lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí).

Khung phân tích của luận án cấu trúc hóa chức năng thực hiện quyền tự do ngôn luận của báo mạng điện tử thành ba nhánh hoạt động nghiệp vụ:

  1. Thực hiện "quyền được biết thông tin từ báo chí": Cung cấp thông tin thời sự chính xác, minh bạch hóa thông tin tại các điểm nóng xã hội, tuyên truyền giải thích chính sách pháp luật, phản ánh đấu tranh phòng chống sai phạm.
  2. Làm diễn đàn thực hiện "quyền tự do nói trên báo chí": Mở chuyên trang/chuyên mục Bạn đọc, vận hành công cụ bình luận (Box Ý kiến bình luận), tổ chức tọa đàm, diễn đàn trực tuyến, tiếp nhận ý kiến qua email/đường dây nóng, khai thác và dẫn nguồn phát ngôn trực tiếp/gián tiếp của công dân trong tác phẩm báo chí.
  3. Thực hiện "quyền tự do khiếu nại, tố cáo trên báo chí": Tiếp nhận, phân loại, xác minh đơn thư khiếu nại, phản ánh của người dân; chuyển giao đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền; theo dõi và đăng tải kết quả giải quyết trên mặt báo.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và văn bản: Phân tích nội dung các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, công ước quốc tế và tài liệu học thuật.
  • Phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis): Phân tích các thông điệp báo chí, khảo sát tần suất tin bài bạn đọc, trích dẫn phát ngôn của người dân trong các đợt sự kiện nổi bật (điển hình là đợt dịch Covid-19 từ ngày 25/7/2020 đến ngày 13/9/2020 trên các báo khảo sát).
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case Study): Khảo sát thực tế trên VnExpress, kết hợp đối sánh với Tuổi Trẻ Online, VietnamNet, Dân Trí, Báo Nhân Dân.
  • Điều tra xã hội học định lượng (Anket): Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến gồm 27 câu hỏi (3 phần), chọn mẫu ngẫu nhiên theo vùng lãnh thổ tại 3 thành phố lớn đại diện ba miền. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và SPSS 23.
Địa bàn khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu hợp lệ thu về Tỷ lệ trong tổng mẫu thu về (%)
Thành phố Hà Nội 300 289 35,20%
Thành phố Hồ Chí Minh 300 273 33,25%
Thành phố Đà Nẵng 300 259 31,54%
Tổng cộng 900 821 100,00% (Đạt tỷ lệ thu hồi 91,22%)
  • Điều tra xã hội học định tính (Phỏng vấn sâu - PVS): Thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp và gián tiếp đối với các nhóm chuyên gia: 05 lãnh đạo cơ quan quản lý/báo chí; 05 lãnh đạo ban chuyên môn, ban bạn đọc, văn phòng đại diện; 03 phóng viên/biên tập viên đang làm nghề; 01 chuyên gia nghiên cứu lý luận báo chí truyền thông. Dữ liệu định tính được mã hóa và xử lý bằng phần mềm NVivo 8.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân

Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm công cụ và tổng kết thực tiễn lịch sử. Tác giả định nghĩa báo mạng điện tử dưới góc độ chuyên ngành Báo chí học tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, làm rõ sự khác biệt giữa quyền tự do ngôn luận thông thường với quyền tự do ngôn luận trên báo chí (được điều chỉnh bởi quy chế pháp lý chặt chẽ và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp). Luận án phân tích quyền tự do ngôn luận không phải là quyền tuyệt đối vô hạn mà luôn có giới hạn pháp lý nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội và danh dự của cá nhân khác.

Về phương diện thực tiễn lịch sử, chương 1 điểm lược hai khối tư liệu:

  • Thực tiễn quốc tế: Khảo lược mô hình báo chí các nước phương Tây, Trung Quốc và một số quốc gia, rút ra kết luận rằng cơ chế vận hành quyền tự do ngôn luận trên báo chí chịu sự quy định trực tiếp bởi thể chế chính trị và truyền thống văn hóa của từng quốc gia.
  • Thực tiễn Việt Nam trước năm 2015: Phân tích chính sách bóp nghẹt tự do báo chí thời thuộc Pháp và chế độ quản lý báo chí thời Việt Nam Cộng hòa; làm rõ bước phát triển của báo chí cách mạng từ năm 1945 qua các thời kỳ kháng chiến đến thời kỳ Đổi mới (Đại hội VI năm 1986 và Chỉ thị 30-CT/TW năm 1998 về quy chế dân chủ cơ sở), khẳng định báo chí luôn đóng vai trò là diễn đàn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.

Chương 2: Thực trạng báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam hiện nay

Chương 2 trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ năm 2015 đến năm 2019 và cập nhật giai đoạn 2020–2021 qua các nhóm tiêu chí cụ thể:

  • Khái lược các trường hợp nghiên cứu: Đánh giá hạ tầng kỹ thuật, cấu trúc giao diện trang chủ, hệ thống chuyên mục và công cụ tương tác (Box ý kiến bình luận, công cụ gửi thư điện tử tòa soạn) của VnExpress và các báo đối sánh.
  • Thực trạng thực hiện "quyền được biết": Các báo mạng điện tử khảo sát đã cung cấp khối lượng thông tin lớn, nhiều chiều về các vấn đề thời sự, kinh tế - xã hội, giải thích chính sách pháp luật, minh bạch thông tin các vụ việc tiêu cực, đáp ứng nhu cầu thông tin cơ bản của người dân.
  • Thực trạng làm diễn đàn "quyền được nói":
    • Khảo sát dung lượng bài viết do bạn đọc cộng tác đăng tải trên mục Bạn đọc giai đoạn 2015–2019.
    • Phân tích mức độ sử dụng và hiệu quả vận hành của công cụ "Box Ý kiến bình luận" (ví dụ khảo sát công cụ bình luận của Tuổi Trẻ Online, VnExpress).
    • Khảo sát việc dẫn nguồn lời nói của người dân: Trong đợt sự kiện Covid-19 (25/7/2020 – 13/9/2020), khảo sát ghi nhận tỷ lệ tác phẩm báo mạng điện tử có trích dẫn ý kiến, tiếng nói trực tiếp và gián tiếp của công dân, ghi nhận thái độ hợp tác tích cực của người dân khi được nhà báo khai thác tư liệu phát ngôn.
  • Thực trạng thực hiện "quyền khiếu nại, tố cáo": Thống kê số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo được ban bạn đọc các báo tiếp nhận, xử lý, đăng tải và chuyển giao cơ quan chức năng giai đoạn 2015–2019.
  • Đánh giá mức độ hài lòng và động cơ tham gia: Phân tích kết quả điều tra 821 phiếu khảo sát về mức độ thường xuyên truy cập báo mạng điện tử, lý do công dân tham gia hoặc không tham gia bình luận/viết bài, mức độ hài lòng đối với tính khách quan và khả năng phản hồi của báo mạng điện tử.
  • Đánh giá thành công và hạn chế:
    • Thành công: Báo mạng điện tử đã mở rộng không gian trao đổi dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi về kỹ thuật cho công dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, kịp thời phản ánh tiêu cực.
    • Hạn chế: Vẫn còn tình trạng chậm duyệt hoặc lọc bỏ bình luận mang tính phản biện xây dựng; khâu xác minh đơn thư khiếu nại ở một số cơ quan báo chí còn kéo dài; nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch hoặc bị lợi dụng khuấy động tâm lý đám đông tiêu cực trong các luồng bình luận chưa được kiểm duyệt chặt chẽ.

Chương 3: Những vấn đề đặt ra và đề xuất giải pháp thúc đẩy báo mạng điện tử thực hiện tốt hơn quyền tự do ngôn luận của công dân trong thời gian tới

Chương 3 tổng kết các vấn đề cấp thiết phát sinh từ thực tiễn và xây dựng hệ thống giải pháp:

  • Những vấn đề đặt ra: Áp lực cạnh tranh thông tin từ mạng xã hội; thách thức kiểm soát thông tin xấu độc trong các mục bình luận mở; yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp của nhà báo; mâu thuẫn giữa nhu cầu ngôn luận đa dạng của công chúng với giới hạn dung lượng và khuôn khổ pháp luật.
  • Nhóm giải pháp từ phía cơ quan báo mạng điện tử: Nâng cấp hệ thống kỹ thuật và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trong kiểm duyệt bình luận tự động; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xử lý đơn thư bạn đọc; nâng cao phẩm chất nghề nghiệp cho phóng viên, biên tập viên phụ trách mảng bạn đọc và diễn đàn.
  • Nhóm khuyến nghị đối với cơ quan lãnh đạo, quản lý: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về báo chí và an ninh mạng; tăng cường cơ chế đối thoại, công khai minh bạch thông tin nguồn từ các cơ quan hành chính nhà nước cho báo chí; xây dựng các chương trình truyền thông nâng cao văn hóa ứng xử trên mạng và ý thức pháp luật cho công dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở bậc tiến sĩ báo chí học tại Việt Nam xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh về việc báo mạng điện tử thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân.
  • Luận giải rõ ràng các khái niệm công cụ: "Báo mạng điện tử", "Quyền tự do ngôn luận", "Quyền tự do ngôn luận trên báo chí" trong bối cảnh thể chế chính trị - xã hội Việt Nam; khẳng định quyền tự do ngôn luận trên báo chí cấu thành từ ba yếu tố hữu cơ: quyền được biết thông tin, quyền được bày tỏ ý kiến và quyền khiếu nại, tố cáo thông qua báo chí.
  • Làm rõ tính chất hai mặt của quyền tự do ngôn luận (quyền gắn liền với trách nhiệm và giới hạn luật định), góp phần bổ sung luận cứ khoa học vào kho tàng lý luận báo chí học cách mạng Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm có giá trị về thực trạng công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo mạng điện tử giai đoạn 2015–2019 và 2020–2021 thông qua kết quả điều tra 821 phiếu Anket tại ba trung tâm đô thị (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) và 14 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia.
  • Làm sáng tỏ các hình thức sử dụng phát ngôn công dân trong tác phẩm báo chí mạng điện tử qua khảo sát sự kiện cụ thể (dịch bệnh Covid-19).
  • Đưa ra hệ thống giải pháp nghiệp vụ và kiến nghị chính sách mang tính ứng dụng cao cho các tòa soạn báo mạng điện tử và cơ quan quản lý báo chí - truyền thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế đã được tác giả nêu rõ:
    • Quy định giới hạn dung lượng văn bản của luận án (150 trang chính văn theo quy định đào tạo) khiến tác giả chỉ có thể trích xuất các dữ liệu điển hình, không thể đưa toàn bộ nội dung ghi âm và biên bản 14 cuộc phỏng vấn sâu vào phần phụ lục.
    • Quá trình thu hồi phiếu khảo sát Anket gặp khó khăn nhất định (tỷ lệ thu hồi đạt 91,22%), một số câu hỏi mở trong phiếu điều tra không nhận được đầy đủ câu trả lời của đối tượng khảo sát.
    • Phạm vi khảo cứu trường hợp chủ yếu tập trung vào các tờ báo điện tử chính thống có lượng truy cập cao trong nước (VnExpress và một số báo đối sánh), chưa bao quát toàn bộ 816 cơ quan báo chí trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát hoạt động thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân trên các nền tảng báo chí số mới, ứng dụng di động của cơ quan báo chí và các trang mạng xã hội trực thuộc tòa soạn.
    • Nghiên cứu sâu hơn về tác động của thuật toán lọc tin và công nghệ trí tuệ nhân tạo đối với việc quản trị dòng ý kiến công chúng trên báo điện tử.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông, Luật học, Chính trị học: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc khoa học về lý luận quyền con người trong truyền thông và phương pháp kết hợp điều tra xã hội học định lượng (SPSS) với phân tích định tính (NVivo) trong nghiên cứu báo chí.
  • Đối với ban lãnh đạo và biên tập viên các tòa soạn báo mạng điện tử: Phần phân tích thực trạng tổ chức diễn đàn, quản lý Box ý kiến bình luận và quy trình xử lý đơn thư bạn đọc ở Chương 2 và Chương 3 là cơ sở thực tế để chuẩn hóa quy trình biên tập và phát triển công cụ tương tác.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông: Các kiến nghị tại Chương 3 cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung chính sách quản lý báo chí điện tử và hoàn thiện quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử thành những nội dung cơ bản nào?
Luận án xác định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo mạng điện tử gồm ba nội dung chính: (i) Quyền được biết thông tin từ báo chí; (ii) Quyền tự do nói/bày tỏ quan điểm trên báo chí thông qua diễn đàn và công cụ bình luận; (iii) Quyền tự do khiếu nại, tố cáo thông qua việc tiếp nhận và giải quyết đơn thư phản ánh của báo chí.

2. Mẫu khảo sát điều tra xã hội học định lượng trong luận án được phân bổ như thế nào?
Khảo sát định lượng được thực hiện bằng phiếu Anket với 900 phiếu phát ra ngẫu nhiên tại 3 thành phố: Hà Nội (300 phiếu), TP. Hồ Chí Minh (300 phiếu), Đà Nẵng (300 phiếu). Tổng số phiếu hợp lệ thu về là 821 phiếu (đạt tỷ lệ 91,22%), gồm Hà Nội: 289 phiếu (35,20%), TP. Hồ Chí Minh: 273 phiếu (33,25%), Đà Nẵng: 259 phiếu (31,54%).

3. Cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước chủ yếu được tác giả vận dụng là gì?
Về văn kiện quốc tế, luận án sử dụng Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (Điều 19, Điều 29) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (Điều 19). Về pháp luật Việt Nam, tác giả căn cứ vào Hiến pháp (từ bản 1946 đến hiện hành), Luật Báo chí năm 2016 (Điều 3 Khoản 6 và các điều khoản liên quan), Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật An ninh mạng.

4. Luận án sử dụng các phần mềm nào để xử lý dữ liệu nghiên cứu?
Tác giả nhập và xử lý dữ liệu điều tra định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel 2013 và SPSS phiên bản 23; dữ liệu phỏng vấn sâu định tính được xử lý, trích xuất mã thông tin bằng phần mềm NVivo phiên bản 8.

5. Vì sao luận án chọn giai đoạn khảo sát chính từ năm 2015 đến năm 2019?
Khoảng thời gian 2015–2019 tương ứng với thời gian chuẩn bị và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đến trước thềm Đại hội XIII, tạo nên một chu kỳ khảo sát hoàn chỉnh về chính sách và thực tiễn báo chí, đồng thời việc theo dõi tiếp đến năm 2021 nhằm bảo đảm tính cập nhật liên tục của dữ liệu.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hằng Thu là công trình học thuật chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về vai trò của báo mạng điện tử trong việc hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận của công dân Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp luận mác-xít, tiếp cận liên ngành và hệ phương pháp nghiên cứu thực chứng chặt chẽ (khảo sát 821 công dân và 14 chuyên gia), luận án đã khẳng định báo mạng điện tử vừa là kênh cung cấp thông tin minh bạch, vừa là diễn đàn xã hội dân chủ trong khuôn khổ pháp lý quốc gia. Các kết quả nghiên cứu và nhóm giải pháp đề xuất có giá trị thực tiễn đối với công tác nghiên cứu, đào tạo báo chí học và quản lý hoạt động truyền thông số tại Việt Nam.