Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án đóng vai trò then chốt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, theo các cuộc khảo sát thực tế của Bộ Tư pháp đối với 237 doanh nghiệp và tổ chức kinh tế tại Việt Nam, có tới 84% doanh nghiệp được hỏi cho biết chưa từng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. Tỷ lệ ưu tiên lựa chọn phương thức trọng tài chỉ đạt mức khiêm tốn 16,9%, thấp hơn rất nhiều so với thương lượng chiếm 57,8% và khởi kiện tại tòa án chiếm 46,8%. Thực trạng này dẫn đến sự quá tải trầm trọng tại hệ thống tư pháp công, khi mỗi thẩm phán tòa kinh tế tại Hà Nội phải xử lý trung bình 30 vụ mỗi năm và tại Thành phố Hồ Chí Minh là 50 vụ mỗi năm, trong khi một trọng tài viên chỉ giải quyết bình quân khoảng 0,25 vụ mỗi năm.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của đề tài tập trung vào quy chế pháp lý đối với trọng tài viên tại Việt Nam, làm rõ các khoảng trống giữa quy định pháp luật và thực tiễn hành nghề. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về trọng tài viên, phân tích sâu sắc các quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010, đánh giá toàn diện quá trình thi hành pháp luật, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn khiến hoạt động của trọng tài viên chưa phát huy tối đa hiệu quả.

Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình phát triển pháp luật trọng tài tại Việt Nam từ những năm 1960 đến năm 2014, trọng tâm là giai đoạn thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành trên phạm vi toàn quốc. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với các chỉ số phát triển kinh tế và tư pháp: đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm nâng thị phần giải quyết tranh chấp thương mại qua trọng tài từ mức dưới 11% hiện tại lên các mức cao hơn, giảm tải áp lực cho hơn 50.000 vụ án thụ lý tại các tòa án lớn, và thiết lập hành lang pháp lý minh bạch cho 7 trung tâm trọng tài thương mại đang hoạt động trên cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quyền tự do thỏa thuận ý chí của các bên trong quan hệ dân sự và thương mại, kết hợp với lý thuyết về thẩm quyền tài phán phi nhà nước trong giải quyết tranh chấp kinh tế. Khung lý thuyết này khẳng định bản chất của tố tụng trọng tài là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thỏa thuận mang tính hợp đồng và yếu tố quyền lực tài phán được nhà nước thừa nhận và hỗ trợ. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiếp thu chuẩn mực quốc tế từ Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế năm 1985 có sửa đổi năm 2006 của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế và các nguyên tắc công nhận thi hành của Công ước New York năm 1958.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm pháp lý nền tảng:

  • Trọng tài viên: Cá nhân độc lập, vô tư, có trình độ chuyên môn cao do các bên lựa chọn hoặc do trung tâm trọng tài, tòa án chỉ định để giải quyết vụ việc theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
  • Hội đồng trọng tài: Cơ quan trực tiếp tiến hành tố tụng, gồm một hoặc nhiều trọng tài viên, thực hiện chức năng xác minh tình tiết, tổ chức phiên họp và ban hành phán quyết có tính chất bắt buộc thi hành.
  • Phán quyết trọng tài chung thẩm: Quyết định giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành mà không thể bị kháng cáo, kháng nghị theo các cấp xét xử như tại tòa án.
  • Quy chế pháp lý đối với trọng tài viên: Tổng thể các quy phạm pháp luật xác lập tiêu chuẩn hành nghề, quyền hạn, nghĩa vụ, quy tắc đạo đức, cơ chế chỉ định, thay thế và trách nhiệm pháp lý của trọng tài viên trong suốt quá trình tố tụng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích các quy định pháp luật trong mối liên hệ mật thiết với thực tiễn chuyển đổi nền kinh tế thị trường. Cỡ mẫu nghiên cứu thực nghiệm bao gồm dữ liệu khảo sát xã hội học từ 237 doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề do Bộ Tư pháp thực hiện, kết hợp cùng chuỗi dữ liệu thống kê thứ cấp về 100% các vụ việc thụ lý tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam trong giai đoạn 1993-2012 và số liệu xét xử thực tế tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên tính đại diện theo cơ cấu ngành kinh tế và quy mô doanh nghiệp nhằm bảo đảm phản ánh trung thực tâm lý thị trường. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp luật học so sánh đối chiếu với Đạo luật Trọng tài năm 1996 của Vương quốc Anh và Luật Trọng tài Cộng hòa Pháp, kết hợp phương pháp thống kê mô tả và logic quy nạp. Lý do lựa chọn việc kết hợp giữa phân tích câu chữ quy phạm và khảo sát định lượng là nhằm bóc tách chính xác những bất cập cơ chế, lý giải vì sao một văn bản tiến bộ với 13 chương và 82 điều như Luật Trọng tài thương mại 2010 vẫn gặp nhiều trở ngại khi áp dụng vào thực tế. Timeline nghiên cứu theo sát diễn trình pháp lý từ Nghị định 20/TTg năm 1960, Nghị định 75/CP năm 1975, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đến Nghị định 63/2011/NĐ-CP và Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô và sự phân bổ của đội ngũ trọng tài viên tại Việt Nam còn rất khiêm tốn và mất cân đối nghiêm trọng. Đến năm 2014, trên toàn quốc chỉ có 7 trung tâm trọng tài được Bộ Tư pháp phê chuẩn điều lệ với tổng cộng 288 trọng tài viên. Trong đó, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam chiếm tỷ trọng áp đảo với 149 trọng tài viên, còn Trung tâm Trọng tài Thương mại Tài chính chỉ có 6 người. Tổng số trọng tài viên nước ngoài đăng ký với Bộ Tư pháp dừng lại ở con số 16 người và toàn bộ đều trực thuộc VIAC. Đáng báo động hơn, có tới 30% trọng tài viên trong danh bạ chưa từng tham gia giải quyết bất kỳ một vụ tranh chấp thương mại nào trên thực tế.

Thứ hai, số lượng vụ việc giải quyết qua trọng tài có xu hướng tăng nhưng thị phần vẫn ở mức quá thấp so với tiềm năng. Giai đoạn 1993-2003, VIAC chỉ thụ lý trung bình 18 vụ mỗi năm; giai đoạn 2004-2010 con số này tăng lên 42 vụ mỗi năm và đạt 83 vụ trong năm 2011. Dù số vụ việc đã tăng gấp đôi qua từng giai đoạn, tổng số vụ án giải quyết qua trọng tài chỉ chiếm khoảng 11% tổng số tranh chấp thương mại phát sinh, hoàn toàn lép vế trước tỷ lệ 98,5% các vụ việc dồn về hệ thống tòa án. Để so sánh, số vụ việc của VIAC năm 2011 chỉ bằng 44% so với con số 188 vụ của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore.

Thứ ba, sự thiếu tin tưởng và rào cản nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp là nguyên nhân trực tiếp kìm hãm sự phát triển của chế định trọng tài. Có tới 74,3% đại diện doanh nghiệp thừa nhận chưa biết hoặc chưa hiểu rõ về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài; 68,6% bày tỏ sự hoài nghi về tính khách quan và năng lực thực thi của trọng tài viên; 61,4% lo ngại về hiệu lực cưỡng chế thi hành phán quyết.

Thứ tư, cơ chế phối hợp tư pháp giữa tòa án và trọng tài viên bộc lộ nhiều điểm nghẽn kỹ thuật. Nguyên nhân khiến sự hỗ trợ từ tòa án còn hạn chế bao gồm: 84,3% do số lượng vụ việc trọng tài quá ít; 43,1% do tòa án quá tải không bố trí đủ thời gian; 43,1% do trọng tài viên chưa chủ động gửi yêu cầu hỗ trợ; và 35,3% do quy định pháp luật phối hợp còn thiếu đồng bộ.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp các phát hiện trên, bức tranh thực trạng có thể được minh họa sinh động qua bảng thống kê so sánh tiêu chuẩn trọng tài viên giữa Nghị định 75/CP và Luật Trọng tài thương mại năm 2010, cùng với biểu đồ đường thể hiện đà tăng trưởng số vụ việc tại VIAC từ năm 1993 đến năm 2012. Bên cạnh đó, biểu đồ hình tròn phân loại mức độ ưu tiên của doanh nghiệp cho thấy khoảng cách lớn giữa nhóm ủng hộ thương lượng 57,8%, tòa án 46,8% so với trọng tài 16,9%.

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên bắt nguồn từ việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật còn chậm trễ và thiếu tính thực tiễn. Phải mất một năm sau khi Luật 2010 có hiệu lực, Chính phủ mới ban hành Nghị định 63/2011/NĐ-CP, nhưng văn bản này chủ yếu tập trung vào quản lý hành chính nhà nước đối với các trung tâm thay vì tháo gỡ vướng mắc nghiệp vụ cho trọng tài viên. Phải mất tới gần bốn năm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mới ban hành Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP để hướng dẫn các nội dung tố tụng phức tạp.

Đặc biệt, việc áp dụng căn cứ hủy phán quyết trọng tài do trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam tạo ra rủi ro pháp lý rất lớn. Khác với thông lệ quốc tế tại Công ước New York 1958 hay Luật Trọng tài Anh 1996 vốn chỉ sử dụng tiêu chí hẹp là trái với trật tự công cộng, khái niệm nguyên tắc cơ bản tại Việt Nam quá rộng và dễ bị diễn giải tùy tiện, dẫn đến việc nhiều phán quyết bị tòa án tuyên hủy, làm xói mòn nghiêm trọng niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn tố tụng. Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể tiêu chí định lượng hành vi vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam theo hướng tiệm cận với khái niệm trật tự công cộng quốc tế. Mục tiêu trong giai đoạn 2014-2016 là giảm tỷ lệ hủy phán quyết trọng tài vì các lỗi tố tụng hình thức xuống dưới 3%, tạo tâm lý an tâm tuyệt đối cho doanh nghiệp khi lựa chọn trọng tài.

Thứ hai, chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ trọng tài viên. Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp cùng các trung tâm trọng tài tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bắt buộc tối thiểu 40 giờ mỗi năm về kỹ năng điều hành phiên họp, thu thập chứng cứ và viết phán quyết. Đặt chỉ tiêu đến năm 2017 giảm tỷ lệ 30% trọng tài viên chưa từng xử án xuống dưới mức 10%, đồng thời mở rộng thu hút các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật, hàng hải có từ 10 năm kinh nghiệm tham gia vào danh ngạch trọng tài viên.

Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp tư pháp nhanh chóng giữa tòa án nhân dân các cấp và hội đồng trọng tài. Tòa án cấp tỉnh cần xây dựng quy chế giải quyết yêu cầu hỗ trợ thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với thời hạn rút ngắn từ 3 đến 5 ngày làm việc. Điều này giúp trọng tài viên thực thi đầy đủ quyền hạn theo quy định tại Điều 47, Điều 48 và Điều 50 của Luật 2010 mà không bị gián đoạn tiến trình tố tụng.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông và nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng các hiệp hội ngành nghề triển khai chiến dịch phổ biến pháp luật trọng tài thương mại trên phạm vi toàn quốc. Mục tiêu trước năm 2020 là nâng tỷ lệ nhận biết về trọng tài của các doanh nghiệp từ 25,7% lên trên 60%, từng bước đưa thị phần giải quyết tranh chấp qua trọng tài từ 11% lên 25% tổng số tranh chấp kinh tế phát sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp: Bộ Tư pháp, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao tìm thấy trong công trình này các cứ liệu thực chứng để đánh giá tác động sau 3 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại 2010, phục vụ việc sửa đổi, bổ sung các nghị định quản lý và ban hành nghị quyết hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất.

Nhóm lãnh đạo các trung tâm trọng tài và trọng tài viên: Ban điều hành 7 trung tâm trọng tài cùng 288 trọng tài viên trên cả nước có thể sử dụng các phân tích so sánh để hoàn thiện quy chế tố tụng nội bộ, xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp chuyên sâu và nâng cao kỹ năng điều hành phiên xử theo chuẩn mực quốc tế.

Nhóm luật sư tranh tụng và chuyên viên pháp chế doanh nghiệp: Đội ngũ cố vấn pháp lý cho hơn 500.000 doanh nghiệp đang hoạt động có thể tham khảo cách thức soạn thảo thỏa thuận trọng tài chuẩn xác, tránh tình trạng điều khoản vô hiệu, đồng thời nắm vững kỹ năng chỉ định trọng tài viên phù hợp với từng dạng tranh chấp kinh tế cụ thể.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Luật: Các cơ sở đào tạo luật học sử dụng tài liệu này làm nguồn tham khảo chuyên sâu cho học phần Luật Kinh tế, Tố tụng Dân sự và Kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, kế thừa nguồn tài liệu khảo sát độc khóa và phương pháp luận tiếp cận đa chiều.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chuẩn để trở thành trọng tài viên theo Luật Trọng tài thương mại 2010 có những điểm mới nổi bật nào? Trọng tài viên phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, sở hữu trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành học từ 5 năm trở lên. Điểm tiến bộ vượt bậc là luật không còn bắt buộc điều kiện có quốc tịch Việt Nam, mở đường cho 16 chuyên gia quốc tế được cấp phép hành nghề tại VIAC tính đến năm 2014.

Vì sao phần lớn doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn e ngại khi chọn phương thức trọng tài? Tâm lý e ngại xuất phát từ việc 74,3% người quản lý doanh nghiệp chưa nắm rõ quy trình trọng tài, 68,6% hoài nghi về sự công tâm và 61,4% lo ngại khâu cưỡng chế thi hành. Hậu quả là 84% doanh nghiệp vẫn giữ thói quen truyền thống đưa tranh chấp ra xét xử tại tòa án.

Phán quyết của trọng tài viên có giá trị cưỡng chế như thế nào so với bản án tòa án? Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc thi hành ngay đối với các bên đương sự. Nếu bên thua kiện không tự nguyện chấp hành, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế mà không cần trải qua thủ tục xét xử lại từ đầu.

Tòa án nhân dân can thiệp và hỗ trợ trọng tài viên trong những trường hợp cụ thể nào? Tòa án hỗ trợ trọng tài viên thông qua việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, chỉ định hoặc thay đổi trọng tài viên khi các bên bế tắc, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hỗ trợ thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng theo quy định tại Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực khác nhau cơ bản ở điểm nào? Trọng tài vụ việc được thành lập riêng cho một vụ việc cụ thể và tự động chấm dứt hoạt động ngay khi ban hành phán quyết, không có trụ sở hay danh sách trọng tài viên cố định. Ngược lại, trọng tài thường trực có tư cách pháp nhân, quy tắc tố tụng riêng và bộ máy thư ký điều hành thường xuyên như 7 trung tâm trọng tài hiện nay.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận về địa vị pháp lý, tiêu chuẩn chuyên môn và vai trò trung tâm của trọng tài viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá toàn diện bước tiến vượt bậc của Luật Trọng tài thương mại 2010 so với Pháp lệnh năm 2003, chỉ rõ sự mở rộng thẩm quyền tài phán và sự công nhận đối với các trọng tài viên mang quốc tịch nước ngoài.
  • Phản ánh trung thực các nút thắt thực tiễn thông qua các con số biết nói: cả nước có 288 trọng tài viên nhưng 30% chưa từng xử án, thị phần giải quyết tranh chấp trọng tài mới chỉ đạt mức 11%.
  • Bóc tách nguyên nhân khiến các phán quyết trọng tài gặp rủi ro bị tuyên hủy do tiêu chí nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam chưa được định lượng rõ ràng tại tòa án các cấp.
  • Đề xuất lộ trình 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện thể chế, nâng cao trình độ trọng tài viên và tăng cường phối hợp tư pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa trọng tài trở thành phương thức giải quyết tranh chấp chủ lưu tại Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.