Chương 1: Một số lý luận chung về quản trị quan hệ khách hàng (CRM). Chương 2: Thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần quân độ chỉ nhánh Đà Nẵng. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần quân độ (MB) chỉ nhánh Đà Nẵng. MỘT SÓ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG (CRM) 1.1 KHACH HANG VA PHAN LOAI KHACH HANG 1.1 Khái niệm về khách hàng Khách hàng là một trong những nhân tô hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại trong kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nảo trong bất cứ lĩnh vực kinh doanh nào.
Chính vì lẽ đó, việc doanh nghiệp xác định được khách hàng của họ là ai là môt vấn đề hết sức quan trọng. Để có được một câu trả lời cụ thể rằng khách hàng là ai, họ như thế nào thì thật là khó. Nhiều người cho rằng, khách hàng là những người tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của công ty mình, nhưng đây có phải là một câu trả lời hợp lý hay không? Dưới đây xin được phép đề cấp đến một khái niệm có liên quan về khách hàng : “Khách hàng của một tổ chức là một tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp. có nhu cầu sử dụng sản phẩm của công ty và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của mình.“Khách hàng của ngân hàng là những cá nhân và tổ chức có nhu cầu sử dụng sản phâm dịch vụ của ngân hàng hoặc có nhu cầu về các sản phẩm tài chính.
Họ sẵn lòng và có khả năng tham gia, trao đổi với ngân hàng để thỏa mãn các nhu cầu đó”.39] Việc xác định rõ khách hàng là ai có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu không biết họ là ai thì không thể hiểu được họ, chứ chưa nói đến việc phát triển chiến lược nào để đảm bảo việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ đúng như mong muốn của khách hàng.2 Phân loại khách hàng Có nhiều cách tiêp cận khác nhau để hiểu và phân loại nhóm khách hàng của mình. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, thông thường khách hàng được phân thành bốn loại như sau: Thứ nhất, theo đối tượng khách hàng gồm: - Khách hàng cá nhân là những cá nhân, hộ cá thể đã và đang sử dụng sản phẩm/dịch vụ ngân hàng. Quyết định mua của khách hàng cá nhân thường ít phức tạp hơn khách hàng tổ chức.
Nguồn khách hàng nay thường nhiều va phân tán về mặt địa lý, họ thường mua với số lượng ít nên không có mối quan hệ qua lại, ràng buộc với các ngân hàng. Họ mua dịch vụ của ngân hàng là để phục vụ cho đời sống và sinh hoạt của chính họ. Vì vậy, việc mua sắm của người tiêu dùng chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý. Nguồn khách hang này thường ít hiểu biết hơn so với các khách hàng là tổ chức.
- Khách hàng doanh nghiệp là những tổ chức kinh tế Việt Nam (doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp): công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cỗ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã;văn phòng đại diện, chỉ nhánh của tô chức kinh tế nước ngoài; các tổ chức khác (các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp; tổ chức đoàn thé; trường học, bệnh viện.) đã và đang sử dụng sản phẩm/dịch vụ của ngân hàng. Trong đó, khách hàng doanh nghiệp phổ biến nhất của ngân hàng là những doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, chủ yếu là công ty cỗ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. Thứ hai, theo sản phẩm dịch vụ gom: - Khách hàng thuộc nghiệp vụ huy động vốn: khách hàng tiền gửi, ký quỹ. - Khách hàng thuộc nghiệp vụ tín dụng: khách hàng tiền vay, bảo lãnh, bao thanh toán.
- Khách hàng thuộc một số nghiệp vụ khác: khách hàng sử dụng thẻ, khách hàng sử dụng dịch vụ Internet Banking,. Thứ ba, theo lịch sử quan hệ gom: - Khách hàng cũ: là những khách hàng đã từng sử dụng sản phẩm/dịch vụ của ngân hàng, nay không còn sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. - Khách hàng hiện hữu: là khách hàng đang sử dụng sản phẩm/dịch vụ của ngân hàng. - Khách hàng tiềm năng: là những cá nhân hoặc tổ chức có khả năng trở thành hoặc không trở thành khách hàng hiện hữu của ngân hàng trong tương lai.
Giá trị của việc giữ quan hệ khách hàng Trong thời đại của nền kinh tế phát triển như hiện nay, ngày càng nhiều doanh nghiệp mọc lên, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt. Chính vì thế, khách hàng ngày càng chiếm giữ một vị trí quan trọng, quyết định sự sống còn của bất cứ doanh nghiệp nào. Dé thỏa mãn vị thượng đề khó tính này bạn phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ cùng ngành hàng loạt vấn đề như: chất lượng sản phẩm, bao bì, bảo hành, chế độ hậu mãi, khuyến mãi, giá cả, uy tín thương hiệu.Bởi nếu bạn không làm điều đó, đối thủ cạnh tranh sẽ làm thay bạn, và hiển nhiên khách hàng sẽ tìm đến nơi phụ vụ họ tốt hơn. Doanh nghiệp bạn đi đến sự khủng hoảng vì mất khách hàng.
Vì vậy, khách hàng giống như một tài sản của doanh nghiệp bạn, cần có chính sách chăm sóc, nuôi dưỡng một cách chu đáo và tận tình. Mọi khách hàng đều có những quyền lựa chọn riêng, họ luôn mong muốn tìm được nơi có thể thỏa mãn những mong muốn của họ. Chính vì thế, họ sẵn sàng bỏ doanh nghiệp bạn nếu có bất cứ điều gì mà khiến họ cảm thấy không hài lòng. Vì lẽ đó, hãy lắng nghe khi khách hàng lên tiếng, hãy chú ý những thông điệp mà khách hàng trao gửi đến bạn.2 QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG (CRM) 1.1 Khái niệm về CRM Lịch sử ngành Marketing chủ yếu đã trải qua những thay đổi khác nhau, từ sản xuất thông qua doanh số bán hàng để định hướng tiếp thị.
Tuy nhiên, những định hướng khác nhau đó đã gặp thất bại trong việc thu hút khách hàng trong mối quan hệ đôi bên cùng có lợi giữa khách hàng và doanh nghiệp, tuy về mặt hình thức đã có những thay đổi, các phương pháp giao dịch vẫn còn kế thừa tiếp thị truyền thống một số tài liệu chỉ ra rằng trong tài liệu chiến lược và tiếp thị, các học giả từ lâu đã cho rằng một chiến lược trung tâm của khách hàng là nền tảng cho lợi thế cạnh tranh và quản lý quan hệ khách hàng (CRM), chương trình đang ngày càng được sử dụng bởi các tổ chức đề hỗ trợ các loại sự hiểu biết của khách hàng và sự kết nối liên ngành cần thiết để có hiệu quả thực thi một chiến lược khách hàng. Thuật ngữ "quản trị quan hệ khách hàng" (CRM) nỗi lên trong ngành công nghệ thông tin (CNTT) của cộng đồng nhà cung cấp và công đồng học viên vào giữa những năm 1990. Nhưng cho đến những năm gần đây, từ năm 2000 thuật ngữ này mới dần được các phương tiện truyền thông, cũng như những nhà quản lý đề cập đến. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi ta đề cập đến CRM, có thê xem xét một số khái niệm điên hình dưới đây: "CRM là toàn bộ suy nghĩ của doanh nghiệp, những câu than chú, và tập hợp các quy trình và chính sách được thiết kế để có được, duy trì dịch vụ khách hàng doanh nghiệp.
CRM không phải là một công nghệ, mặc dù công nghệ là động lực CRM "[13, trang 14] “Quan tri quan hệ khách hàng (CRM) la qua trình lựa chọn những khách hàng mà một doanh nghiệp có thể phục vụ một cách sinh lời nhất và thiết lập những tương tác riêng biệt giữ doanh nghiệp với từng khách hàng” [16] “Quản lý môi quan hệ khách hàng (CRM) là một cơ so ha tang cho phép phác họa và làm gia tăng giá trị khách hàng, và là phương tiện đúng đắn tạo động lực cho khách hàng có giá trị duy trì lòng trung thành, hay nói đúng hơn là tiếp tục mua hang” [1,trang 25] Nhìn nhận chung, sau khi tổng hợp các ý kiến từ các nhận định trên, tác giả cho rằng: “CRM là một cách kết hợp hoàn hảo giữa các yếu tố trong một tổ chức bao gồm: con người, quá trình và công nghệ ứng dụng, với mục đích cuối cùng là tạo ra giá trị cho các thành viên trong tổ chức nhờ vào việc làm hài lòng khách hàng của họ.CRM giúp phân khúc được nhóm khách hàng và qua đó tiếp cận được với khách hàng mục tiêu. CRM là một sự tổng hợp từ chiến lược tiếp thị và yếu tố công nghệ thông tin (CNTT) để tạo ra nguồn lợi cho không chỉ cho doanh nghiệp mả còn cho nhóm đối tượng khách hàng mà họ hướng đến.2 Vai trò và chức năng của CRM 1.1 Vai tro cia CRM CRM được bắt đầu với ý tưởng là giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lực (nhân lực và công nghệ) để hiểu thấu đáo về thái độ, thói quen của khách hàng và đánh giá giá trị của từng phân đoạn khách hàng riêng biệt. Với sự trợ giúp của một chương trình CRM có hiệu quả, các doanh nghiệp có thé đạt được những mục đích cơ bản sau: % Hỗ trợ quyết định kinh doanh -_ Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về khách hàng tiềm năng với các thông tin phân loại tốt để hỗ trợ doanh nghiệp có quyết định tốt về ngành nghề mình đang hoạt động và định hướng tốt về sản phâm và dịch vụ trong tương lai cũng như là cách thức tiếp cận thị trường một cách hiệu quả. - _ Căn cứ trên hệ thống thông tin đối tác, đối thủ cạnh tranh hệ thống sẽ giúp cho người quan lý có thể định hướng được cách tiếp cận khách hàng có lợi cho minh, tránh các rủi ro hoặc cạnh tranh khốc liệt ngoài ra thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh cũng như điểm mạnh, điểm yếu trong hệ thống dịch vụ đó sẽ giúp cho.
doanh nghiệp có được cách mở rộng đặc tính trong sản phẩm hoặc dịch vụ của mình để có được lợi thế cạnh tranh tốt. Quan ly thông tin khách hàng tập trung - H6 tro quản lý thông tin khách hàng một cách khoa học và tập trung, tránh tình trạng thông tin tản mát rất dễ gây ra sai sót trong quá trình dịch vụ khách hàng. - Quy trinh chăm sóc một khách hàng sẽ đi kèm với rất nhiều thông tin phát sinh cần quản lý như: Báo giá, tài liệu giải pháp, các yêu cầu của khách hàng,.