CHƯƠNG 1 LÊ QUÝ ĐÔN VÀ TÁC PHẨM “VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ” 1. LÊ QUÝ ĐÔN – CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP, TƯ TƯỞNG 1. Khái quát cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn Lê Quý Đôn sinh ngày mồng 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức ngày 2/8/1726) ở phường Bích Câu, thành Thăng Long (phố Bích Câu, Hà Nội ngày nay). Song từ năm 1731, tuổi thơ của ông chủ yếu gắn với vùng quê gốc là làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Thân phụ Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thứ, đỗ tiến sĩ năm giáp thìn 1724, làm quan Hình bộ thượng thư và được phong tước hầu. Mẫu thân ông là con gái quan Tự Khanh Trương Minh Lượng, nên Lê Quý Đôn rất có điều kiện để theo đòi bút nghiên. Ngay từ nhỏ Lê Quý Đôn đã nổi tiếng thông minh, có một trí nhớ đặc biệt, học đâu nhớ đấy. Lên hai tuổi đọc được chữ Hữu và chữ Vô, năm tuổi đọc được Kinh Thi, mười tuổi học sử và Kinh Dịch, mười bốn tuổi học hết Ngũ kinh, Tứ thư, sử truyện và cả Chư tử.
Năm Cảnh Hưng nguyên niên (1739), cậu bé mười ba tuổi Lê Quý Đôn theo cha lên kinh đô để theo đòi cử nghiệp. Năm 18 tuổi (1743), Lê Quý Đôn đỗ Giải nguyên khoa thi Hương trường Sơn Nam. Năm 1752, Lê Quý Đôn đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi khi vào thi Đình, đỗ Bảng nhãn (tức đỗ đầu - khoa này không lấy Trạng nguyên), thường gọi là Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn. Ông được cử giữ chức Thị thư ở viện Hàn lâm.
Năm 1754 được cử vào ban Toản tu quốc sử, năm 1756 đi liêm phóng ở trấn Sơn Nam và ông đã phát hiện được nhiều vụ hối lộ. Cùng năm này, ông Luan van 10 được đổi sang phủ chúa Trịnh trông coi việc phiên binh. Tháng tám năm đó ông được cử đi hiệp đồng với các đạo Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hoá…, đem quân đi dẹp khởi nghĩa của Hoàng Công Chất, lập được nhiều chiến công. Năm 1757, được thăng lên chức Thị giảng Hàn lâm viện.
Năm 1760, ông cùng Trần Huy Mật được cử dẫn đầu một phái đoàn sang nhà Thanh báo tang vua Lê Ý Tôn và dâng lễ cống. Năm 1762, khi đi sứ về nước, ông được thăng chức Hàn lâm viện thừa chỉ, được giữ chức Học sĩ Bí thư các. Năm 1764 được cử giữ chức Đốc đồng xứ Kinh Bắc. Cùng năm này, ông dâng sớ xin thiết định pháp chế.
Năm 1765, ông được bổ nhiệm làm Tham chính xứ Hải Dương, nhưng ông đã không nhận và xin cáo quan về nhà viết sách. Năm 1767, Trịnh Sâm lên thay cha đã mời Lê Quý Đôn giữ chức Thị thư, tham gia biên soạn quốc sử, kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám. Năm 1768 ông làm xong bộ Toàn Việt thi lục dâng lên cho chúa Trịnh và được thưởng hai mươi lạng bạc. Tháng 9 năm 1768, ông được cử làm Tán lý quân vụ cùng với Phan Phái Hầu đem quân đi đánh Lê Duy Mật, Lê Đình Bản ở Thanh Hoá.
Lê Quý Đôn đã đại phá quân Lê Đình Bản ở Đồng Cổ. Năm 1769, Lê Quý Đôn thống lĩnh hơn 9000 quân Kinh và Thổ hợp sức với quân Nghệ An buộc Lê Đình Bản phải đầu hàng, Lê Duy Mật phải tự tử. Nhờ có công đánh dẹp Lê Duy Mật nên ông được thăng chức Thị phó đô ngự sử. Năm 1770 ông lại được thăng chức Công bộ hữu thị lang.
Năm 1772, được cử đi điều tra tình hình thống khổ của nhân dân và những việc tham nhũng của quan lại ở Lạng Sơn. Ông đã báo cho chúa Trịnh biết những việc tham nhũng của viên đốc trấn Lê Doãn Thân, chúa Trịnh đã bãi chức viên quan này. Năm 1773, hoạn quan Trần Huy Đỉnh được cử giữ Luan van 11 chức Thư phủ sự phủ chúa Trịnh (tể tướng), còn Lê Quý Đôn được thăng lên chức Bồi tụng trong phủ chúa. Năm 1774, Lê Quý Đôn được lệnh đi đo đạc ruộng đất ở Sơn Nam.
Cùng năm đó, Trịnh Sâm thân chinh mang quân đi đánh Thuận Hoá, Lê Quý Đôn được cử giữ chức lưu thủ ở Thăng Long. Năm 1775, sau khi thu phục được Thuận Hoá, Trịnh Sâm đem quân về, Lê Quý Đôn được thăng lên chức Lại bộ tả thị lang kiêm Quốc sử quán tổng tài. Năm 1776, chúa Trịnh đặt ty trấn phủ ở Thuận Hoá, Bùi Thế Đạt được cử giữ chức đốc suất kiêm trấn phủ, Lê Quý Đôn được cử giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ. Trong thời gian ở đây, ông ra sức chấn chỉnh lại bộ máy chính quyền, chăm lo đời sống kinh tế, giáo dục cho nhân dân.
Mặc dù chỉ ở đây có 6 tháng, nhưng Lê Quý Đôn ngoài công việc chính còn viết xong bộ sách Phủ biên tạp lục. Cuối năm 1776, ông được cử giữ chức Hành bộ phiên cơ mật sự vụ kiêm Chưởng tài phú. Năm 1778, ông được cử làm Hành tham tụng, nhưng ông xin chuyển hẳn sang Ban võ, được giao chức Hữu hiệu điểm, quyền phủ sự, tước Nghĩa phái hầu. Năm 1781, ông lại được cử giữ chức Quốc sử quán tổng tài, Hiệp trấn Nghệ An.
Năm 1782, ông được triệu về triều thăng lên chức Công bộ thượng thư. Ngày 2-6-1784 (ngày 14 tháng Tư năm Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45), Lê Quý Đôn đã trút hơi thở cuối cùng khi đang còn tại chức. Trước khi mất, ông được thăng chức Thượng thư Bộ Công. Triều đình Lê - Trịnh cho nghỉ chầu mấy ngày liền để tỏ lòng thương tiếc một nhân vật tài hoa của đất nước và cử Tham tụng Bùi Huy Bích làm chủ lễ tang.
Bùi Huy Bích, thay mặt vua Lê, chúa Trịnh và những người từng theo học Tam nguyên Bảng nhãn Lê Quý Đôn, đọc lời vĩnh biệt, trong đó có câu: Học vấn sâu rộng, Luan van 12 văn chương lỗi lạc, thông minh nhất đời. Nước Nam ta trong khoảng hai trăm năm nay mới có một người như thầy. Lê Quý Đôn là nhà bác học lớn của dân tộc ở thế kỷ XVIII, di sản ông để lại rất đồ sộ. Theo thống kê thấy có trên 40 tác phẩm với đủ các thể loại: văn, thơ, ký, luận, triết học, sử học, địa lý, ngôn ngữ, chú giải kinh điển… và sự phong phú trong đề tài thể hiện.
Ngoài một số tác phẩm đã bị thất lạc, có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu của ông như sau: Về thơ văn thì Lê Quý Đôn có các sáng tác như Quế Đường thi tập, Quế Đường văn tập, Quế Đường di tập. Ngoài việc sáng tác, ông còn có công lao trong việc sưu tầm, biên soạn và hoàn thành hai tác phẩm Toàn việt thi lục và Hoàng Việt văn hải được đánh giá cao. Phan Huy Chú (1782-1840) có nhận xét về văn thơ Lê Quý Đôn: “Cách thơ đều trong sáng. Lời văn thì hồn nhiên như thiên thần, không cần suy nghĩ mà trôi chảy dồi dào như sông dài bể rộng, không chỗ nào là không đạt đến.
Thực là phong cách đại gia.” Về Sử học, ông có tác phẩm: Đại việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Bắc sứ thông lục, Kiến văn tiểu lục. Đại Việt thông sử còn gọi là Lê triều thông sử, là bộ sử được viết theo thể ký truyện, chép sự việc theo từng loại, từng điều một cách hệ thống, bắt đầu từ Lê Thái Tổ đến Cung Hoàng, bao quát một thời gian hơn 100 năm của triều Lê từ năm 1418 đến năm 1433, trong đó chứa đựng nhiều tài liệu mới mà các bộ sử khác không có, đặc biệt là về cuộc kháng chiến chống Minh. Theo Phan Huy Chú, thì Đại Việt thông sử có 30 quyển nhưng hiện nay chỉ còn lại 3 tập với một bài tựa của tác giả viết năm 1749. Bắc sứ thông lục là tác phẩm gồm những bài tấu, khải, truyền báo, những tạp kí về núi sông, đường sá, phong tục, sự tích… Ở những nơi mà Luan van 13 phái đoàn đi qua trong thời gian ông đi sứ Trung Quốc từ năm 1760 đến năm 1762.
Tác phẩm gồm 4 quyển, có bài tựa của tác giả đề năm 1780. Phần cuối có ghi những bài tựa của người Trung Quốc viết cho sách Thánh mô hiền phạm và Quần thư khảo biện. Kiến văn tiểu lục là tập bút ký nói về lịch sử và văn hóa Việt Nam từ đời Lý, Trần đến đời Lê. Tác phẩm đề cập tới nhiều lĩnh vực từ thành quách núi sông, đường sá, thuế má, phong tục tập quán, sản vật, mỏ đồng, mỏ bạc, cho tới các lĩnh vực thơ văn, sách vở.
Cuốn sách gồm 12 phần tương ứng 12 quyển, nhưng hiện nay chỉ còn tám phần. Tác phẩm gồm: “Châm cảnh, “Thể lệ thượng”, “Thiên chương”, “Tài phẩm”, “Phong vực”, “Thiền dật”, “Linh tích”, “Tùng đàm”. Tác phẩm này còn đến hiện nay bị thiếu phần “Thể lệ hạ”, “Phong vực trung”, “Phong vực hạ” và “Phương thuật”. Phủ biên tạp lục là quyển sách ghi chép lại hầu hết các thông tin quan trọng về kinh tế và xã hội của xứ Đàng Trong trong gần 200 năm từ cuối thế kỷ 16 đến khoảng năm 1776.
Tác phẩm gồm 6 quyển, được viết trong thời gian 6 tháng khi ông giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ phủ Thuận Hoá. Tác phẩm còn có bài tựa của tác giả đề ngày rằm tháng tám năm 1776, một bài bạt của Ngô Thì Sĩ đề ngày 1 tháng 10 năm 1777. Tác phẩm gồm các chương: 1- Lịch sử khai thác hai xứ Thuận, Quảng; 2 - Núi sông, thành luỹ, đường sá…; 3 - Ruộng công, ruộng tư, số lượng sản phẩm, thuế má…; 4 - Thượng du, biên phòng, thuế chợ, thuế mỏ…; 5 - Nhân tài, thơ văn; 6 - Phẩm vật, phong tục. Về triết học gồm có Quần thư khảo biện, Thánh mô hiền phạm lục, Âm chất văn chú, Vân đài loại ngữ.
Quần thư khảo biện gồm 2 quyển, có bài tựa của tác giả đề ngày 1 tháng 8 năm 1737. Tác phẩm là “những lời bàn luận có khảo cứu, có so sánh Luan van 14 và minh chứng về các nhân vật, các sự kiện lịch sử của Trung Quốc từ Hạ Thương Chu cho đến Đường Tống” [11, tr. Quần thư khảo biện đề cập đến một khối lượng sách sử rất lớn, để bàn về các nhân vật và sự kiện quan trọng của các triều đại lúc thịnh cũng như lúc suy, từ đó rút ra nguyên nhân thành công và thất bại làm bài học cho các thế hệ sau. Thánh mô hiền phạm lục gồm 12 quyển, ghi chép và bình luận những danh ngôn của các bậc thánh hiền, có bài tựa của sứ thần Triều Tiên, của người Trung Quốc: Chu Bội Liên và Tần Triều Vu.