Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG văn hóa nhà trường Ở TRƯỜNG trung học cơ sở. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài 'Văn hóa nỏi chung và văn hoá nhà trưởng nói riêng là một trong những chủ đề hấp dẫn được các nhà nghiên cửu trên thể giới quan tâm khai thác ở những chiều cạnh khác nhau, tiêu biểu có những công trình nghiên cứu sau đây: Ban vẻ cấu trúc văn hoá nhà trường, hâu hết các nhả nghiên cứu đều nhất trí với một trong hai mô hình cấu trúc: Thứ nhất, mô hình tảng băng (hai tầng bậc) được đưa ra bởi Erank Gonzales (1978). Theo đó, tương tự văn hóa tô chức, văn hoá nhà trường giống như một tảng băng, có văn hóa biểu hiện ở bề mặt và văn hóa ở chiều sâu.
Trong đó, bề mặt văn hóa là những thảnh tố vật chất dễ quan sát và đễ thay đối. Bê sâu của văn hóa là những yếu tổ thuộc tĩnh thần như các giá tri, niém tin và các ý nghĩ của con người mà chúng ta khó quan sát hoặc khó thay đồi [27]. Thứ hai, mô hình cấu trúc ba tang bac do Edgar H. Schein (2004) đưa ra và được áp dụng vào văn hoá nhà trường.
Theo mô hình nảy, văn hoá nhà trường bao gồm ba tằng bậc: (1) Các yêu tổ hữu hình - có thể quan sát được; (2) Các giá trị được thể hiện, bao gồm niềm tin, thái độ, cách ứng xử; (3) Các giả thiết cơ bản - bao gồm các yếu tổ liên quan đến môi trường xung. quanh, thực tế của tổ chức, hoạt động và mỗi quan hệ giữa con người trong tổ chức. Trong hai mô hình nảy, mô hình ba cấp độ của văn hoá nhà trường phản ánh chat lẽ và đầy đủ hơn về cấu trúc văn hoả nhả trường. Trong đó, đặc biệt cần nhân mạnh ở đây là các giả thiết cơ bản - tằng thứ ba trong cấu trúc văn hỏa, Theo Schein, ting gia định cơ bản bể sâu chính là các giả thiết ban đầu, được hỗ trợ bởi một linh cảm hay một giá trị nào đó, được sử dụng liên tục khi giải quyết một vấn đẻ, dân dẫn trờ thành hiện thực.
Tầng giả thiết cơ bàn bề sâu này sẽ quyết định đến cách giải quyết, nhìn nhận, xem xét mọi vấn đẻ của tô chức, nó chỉ phối việc lựa chọn phương án nào, giá trị nảo. Nó có mối quan hệ chặt chẽ, chỉ phối đến hai tằng còn lại là các yếu tố hữu hình và các giá trị được thê hiện [26] 'Bàn về các biểu hiện của văn hoá nhà trường, tiêu biều có các công trình nghiên cứu của các tae gia Peterson, Deal, Terrence [24], Frank Gonzales [27], Schein [25]. Cae nghiên cứu của các tác giá đều có điểm chung cho văn hoá nha trường được biểu hiện cụ thể thành hai tầng bậc. Tẳng bậc thứ nhất là các yếu tô bể nỗi của văn hoá nhà trường và tang bac tir hai la các yếu tố bề sâu của văn hóa nhà trường.
VỀ vai trò của văn hóa nhà trường đối với các hoạt động day và học của nhà trưởng, tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu sau: Barth (2002) cho rằng văn hoá nhà trường tác động đến toàn bộ các thành viên trong nhà trưởng; tác động sự thành công, hiệu quả hoạt động của nhà trường. Tác giả nhắn mạnh: *Văn hoá nhả trường còn cỏ sức ảnh hướng mạnh mè hơn đến các hoạt động và việc học tập trong trường học hơn lä tổng thống của quốc gia, bộ giáo dục, hội đồng nhả trưởng, hay thậm chỉ la hiệu trưởng, giáo viên vả các phụ huynh” [23] Tương tự, Peterson (2002) cho rằng "Môi trường văn hoá nhà trưởng tích cực, các thành viên luôn cỏ ý thức chung về sự kết nối giữa các cá nhân, ÿ thức được chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng và chăm sóc cho mọi người. Còn môi trường văn hỏa chứa đựng các yếu tổ tiểu cực sẽ tác động xấu đến hiệu quá giáo dục cũng như các hoạt động khác của nhả trường”. Các nghiên cứu ở trong nước.
Bàn vẻ các thành tố của văn hoá nhà trường, Phạm Minh Hạc (1994) cho rằng văn hoá nhà trường bao gồm chủ thẻ là giảng viên, sinh viên, cán bỏ công nhân viên; khách thể là hệ thống các giá trị văn hóa, các hình thức vận động văn hóa, cảnh quan văn hóa [9] Ở góc độ tâm lý học, tác giả Thái Duy Tuyên (2009) đã quan niệm “Văn hoá học đường bao gồm những giá trị vat chat va tinh than cua nhân loại, hệ kinh nghiệm của. lịch sử xã hội loài người đã được hệ thống hoá qua nhiêu thể ký vả có thẻ truyền lại cho thé hệ sau. Văn hoá học đường là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người được tích luỹ trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân và quá trình hình thành nhân cách”[22]. Công trình nghiên cứu của tac gid Pham Quang Huan trong cuén “Van héa 16 chức - Hình thái cốt lõi của văn hỏa nhà trưởng”, Kỷ yêu Hội thảo Văn hóa học đường (2007) cho rằng văn hoá nhả trưởng là văn hóa tỏ chức, do đó, văn hoá nhà trường mang đặc trưng của, hình thái của văn hoá tổ chức [12].
Còn theo Phạm Thị Minh Hạnh (2009) trong bài viết “Văn hóa học đường: Quan niệm, vai trò, bản chất và một số yếu tổ cơ bản” in trong cuốn "Văn hóa và văn hóa học đường cho tần; ăn hóa tổ chức nhà trường là hệ thống những quy định tường minh hay ngam ẩn, các chuẩn mực đạo đức, giá trị cơ bản, quy tắc ứng xử tốt đẹp nhất giữa các thành viên trong nhà trường và các tổ chức cả nhân ngoài xã hội có liên quan trong quá trình hoạt động: đặc trưng cho mỗi nhà trường, phủ hợp với xã hội đó [1 1]. Pham Quang Huân (2007), “Văn hóa tô chức - hình thái cốt lõi của VHNT”, Kÿ' yếu Hội thảo văn hỏa học đường, Viên nghiên cứu sư phạm, Trường ĐHSP Hà Nội. Trong đó tác giả cũng tiếp tục khẳng định, VHNT là văn hóa của một tổ chức. Tác giả phan tích 7 biều hiện trong hình thái và cấp đô biểu hiện của VHNT đồng thời đưa ra Š 1í do để khăng định tâm quan trọng của VHNT đối với chất lượng giáo dục: Văn hóa là tài sản lớn của bất kì một tổ chức nào, VHNT tạo động lực làm việc, VHNT hỗ trợ.
điều phối và kiếm soát, VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trưởng. [12] Cùng tác giá Phạm Minh Hạc (2008), *Quan hệ người - người: Giá trị quan trọng nhất trong nhân cách” , Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 5 (38) và “Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường”, Tạp chỉ Đại học Sài Gòn, Quyền số 17 - Tháng 11/2013, nội dung văn hoá nhà trưởng có ba nội dung chính cần chủ ý: Thứ nhất, các nhả trường ở nước ta cỏ hoản cảnh riêng, nỉ là về cơ sở vật chât còn thiêu thôn nhiều, đội ngũ nhà giáo lẫn cán bộ quản lý còn gặp nhiều khó khăn, do đó mục địch của văn hỏa học đường là đến năm 2015-2020, khi nước ta trở thành nước công nghiệp. theo hướng hiện đại. trường lớp trên cả nước đều đã kiên cỗ hỏa, như Chỉnh phủ đã đưa ra Dé an tir năm 2004.
7hứ hai, đồng thời với việc chăm lo cơ sở vật chất, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy và quản lý ằn xây dựng môi trưởng giáo dục trong nhà trường, trong kỷ túc xá hay nhà trọ, đỉnh, nơi công cộng: hưởng ứng phong trảo *Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đảo tạo (Chỉ thị số 40/2008/CT- BGDĐT ngày 22/7/2008), nhằm mục địch "thiết lập lại môi trường sử phạm với sảu đặc trưng là trật tự kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, tình thương và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả”. 7jứ ba, xây dựng “văn hóa ứng xử”, “van héa giao tiếp” ở gia đình, trong nhà trường, ngoải xã hội - đó là quan hệ người - người, giá trị quan trọng nhất trong nhân cách [10; tr47-53] Trần Kiểm (2008), Những vấn đề cơ bản của Khoa học quản lý xuất bản ĐHSP. Trong đó, tác giả nghiên cứu theo hướng áp dụng các vấn đề cơ bản của văn hóa tổ chức vào giáo dục và quản lý giáo dục. Tác giả chỉ ra bộ ba cầu thành nên văn hóa tổ chức đỏ là nhận thức - hành vi - thải độ và được xem xét trong mỗi quan hệ với các yêu tổ bên trong vả với môi trường bên ngoài của tổ chức.[ 13] Bản về công tác quản lý xây dựng VHNT.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: tông tác qug' xây dựng I'HNT là thực hiện đường lỗi của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm cúa mình, tức là đưa nhà trưởng vào vận hành theo nguyên lì giảo dục, với thể hệ trẻ và từng HS”. Ông cho rằng: “Công tác quản lý xây dựng HGNT là quản lý đội ngũ GV, quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ GI, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thải này sang trạng thái khác để dẫn tiến tới mục đích giáo đục” [LI] Nguyễn Thi My Léc (2010), Quan li VHNT, Tai liệu bài giảng chương trình đảo. tao thạc sĩ QLGD, trường ĐHGD, ĐHQG Hà Nội. Trong tài liệu này, tác giá đã hệ thống lại các vấn để cơ bản của văn hóa tổ chức cũng như VHNT, từ đó đưa ra những.
gợi ý và những hướng vận dụng trong xây dựng VHNT đối với các nhà trường ở Việt Nam [15] 1. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1.1, Quân lý Quản lý là một trong võ số các hoạt đông của con người, nhưng đó là một loại hình đặc biệt, là lao động siêu lao động. nghĩa là nó lấy các loại hình cụ thể lâm đối tượng đề tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực.
từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức. Vì vậy, quản lý vừa có những đặc điểm chung, có quan hệ hữu cơ với các hoạt động cụ thê khác, vừa có tỉnh độc lập tương đối và mang những đặc trưng riêng của nó. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho ring: “Hoat động quan lj bắt nguôn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chỉnh sự phản công, hợp tác lao động nhằm đến hiệu quả nhiễu hơn, năng suất cao hơn trong việc đỏi hỏi phải cỏ sự chỉ huy phối hop, diéu hành, kiểm tra, chỉnh lÿ.
phải có người đứng đâu. Đây là hoạt động đẻ người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong công đồng, trong tô chức. đạt được mục tiêu đẻ ra" [1].