Tài liệu: Quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan nghệ ană

Tài liệu Quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan nghệ ană tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành tại Việt Nam

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ kinh tế

2015

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu là một loại thuế gián tiếp mà nhà nước áp dụng đối với các hàng hóa được xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới quốc tế. Đây là công cụ kinh tế quan trọng giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, bảo vệ sản xuất trong nước và tăng thu ngân sách nhà nước. Thuế nhập khẩu có tác dụng bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi sự cạnh tranh từ hàng ngoại nhập, trong khi thuế xuất khẩu giúp kiểm soát việc trao đổi hàng hóa quốc tế. Đặc điểm nổi bật của thuế này bao gồm tính chất bắt buộc, tính gián tiếp thể hiện qua giá cả hàng hóa, và khả năng điều tiết hoạt động thương mại quốc tế của quốc gia.

1.1. Định nghĩa thuế xuất nhập khẩu

Thuế xuất nhập khẩu là khoản tiền do nhà nước đánh thuế đối với các hàng hóa qua biên giới. Đây là loại thuế gián tiếp được áp dụng theo chính sách quản lý hải quan của bộ tài chính. Thuế được tính dựa trên giá trị hàng hóa hoặc mức suất thuế cố định, phục vụ cả mục đích tăng thu ngân sách và điều tiết kinh tế.

1.2. Đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu

Các đặc điểm chính bao gồm: tính bắt buộc, áp dụng cho tất cả hàng hóa xuất nhập khẩu qua cục hải quan; tính gián tiếp, thể hiện qua giá hàng; có khả năng điều tiết hoạt động thương mại quốc tế; là công cụ chính sách kinh tế quan trọng để bảo vệ sản xuất nội địa.

II. Chức năng và vai trò của cục hải quan trong quản lý thuế xuất nhập khẩu

Cục hải quan đóng vai trò then chốt trong quản lý thuế xuất nhập khẩu tại các cảng biển và các điểm nhập cảnh quốc tế. Các chức năng chính bao gồm: thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách thuế, thu thập thông tin về đối tượng nộp thuế, tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về thuế, quản lý thu nộp ngân sách, kiểm tra và thanh tra hoạt động xuất nhập khẩu. Vai trò của cục hải quan không chỉ dừng lại ở việc thu thuế mà còn phòng chống buôn lậu, xử lý vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu nhập khẩu, giải quyết khiếu nại và tố cáo. Cục hải quan cũng thực hiện kiểm tra sau thông quan để đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định về thuế và hình thành nên một môi trường quản lý hải quan minh bạch, công bằng.

2.1. Chức năng quản lý thuế của cục hải quan

Cục hải quan thực hiện quản lý nhà nước đối với thuế xuất nhập khẩu thông qua các hoạt động: thu thập thông tin về hàng hóa, thực hiện tuyên truyền pháp luật, kiểm tra chứng chỉ xuất xứ, xác định giá trị hàng hóa, áp dụng mức suất thuế, và thu nộp ngân sách nhà nước từ hoạt động xuất nhập khẩu.

2.2. Vai trò trong phòng chống buôn lậu và gian lận

Cục hải quan có nhiệm vụ phòng chống buôn lậu, xác định gian lận thương mại, xử lý vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu và nhập khẩu. Thông qua kiểm tra sau thông quan, cục hải quan đảm bảo hàng hóa được khai báo chính xác, tuân thủ các quy định về quản lý hải quanchính sách thuế của nhà nước.

III. Thực trạng quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan Nghệ An

Cục hải quan Nghệ An là một đơn vị hành chính quan trọng trong lĩnh vực quản lý hải quanthu thuế xuất nhập khẩu tại tỉnh Nghệ An. Trong giai đoạn 2012-2014, cục đã đạt được những kết quả đáng kể trong quản lý thuế, với tổng thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu liên tục tăng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích, cục hải quan Nghệ An vẫn đối mặt với những thách thức trong quản lý hải quan như: nợ đọng thuế xuất khẩu nhập khẩu, hiện tượng buôn lậu và gian lận, chất lượng tuyên truyền pháp luật chưa đạt yêu cầu, năng lực kiểm tra thanh tra còn hạn chế. Các vấn đề này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với thuế xuất nhập khẩu và việc tăng thu cho ngân sách nhà nước.

3.1. Kết quả đạt được trong quản lý thuế

Cục hải quan Nghệ An đã thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền pháp luật về thuế xuất nhập khẩu, tăng cường kiểm tra hải quan và phát hiện vi phạm, tổ chức thực hiện chính sách thuế của nhà nước. Thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu duy trì tăng trưởng, góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước địa phương.

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Những hạn chế chính bao gồm: nợ đọng thuế xuất khẩu nhập khẩu từ các doanh nghiệp, tình trạng buôn lậu và gian lận vẫn phức tạp, chất lượng quản lý hải quan chưa đạt tiêu chuẩn. Nguyên nhân gồm: thiếu trang thiết bị kỹ thuật, cơ sở pháp lý chưa hoàn thiện, và năng lực nhân lực cần nâng cao.

IV. Giải pháp tăng cường quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan

Để cải thiện tình hình quản lý thuế xuất nhập khẩu tại cục hải quan, cần triển khai những giải pháp toàn diện và hiệu quả. Trước hết, hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý hải quanchính sách thuế nhằm tạo khung pháp lý rõ ràng cho các hoạt động xuất nhập khẩu. Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo, tập huấn để cộng sự tại cục hải quan nắm vững kiến thức về thuế xuất khẩuquản lý nhà nước. Thứ ba, tăng cường đấu tranh phòng chống buôn lậugian lận thương mại thông qua kiểm tra thanh tra định kỳ và đột xuất. Thứ tư, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để kiểm tra hải quan hiệu quả hơn. Cuối cùng, thực hiện tốt kiểm tra sau thông quan để phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật về thuế và đảm bảo tuân thủ các quy định quản lý hải quan của nhà nước.

4.1. Giải pháp về trang thiết bị kỹ thuật và cơ sở hạ tầng

Cục hải quan cần được trang bị thiết bị kiểm tra hiện đại như máy quét hàng hóa, hệ thống quản lý hải quan trên máy tính, để nâng cao hiệu quả quản lý thuế xuất nhập khẩu. Nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các cảng, sân bay giúp tăng tốc độ thông quan hàng hóa và kiểm tra hải quan chính xác hơn.

4.2. Giải pháp phòng chống buôn lậu và nâng cao tuân thủ pháp luật

Tăng cường kiểm tra thanh tra định kỳ và đột xuất, kiểm tra sau thông quan để phát hiện buôn lậugian lận thương mại. Xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về thuế, tuyên truyền mạnh mẽ chính sách thuế để doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiểu rõ quy định và tự nguyện tuân thủ quản lý hải quan.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU VÀ QUẢN LÝ HẢI QUAN ĐỐI VỚI THUẾ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1. Những vấn đề chung về thuế xuất nhập khẩu 1. Khái niệm Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là sắc thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu hoặc thuế quan là cách gọi chung của hai loại thuế trong lĩnh vực thương mại quốc tế là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.

Thuế xuất, nhập khẩu là loại thuế đánh vào hàng hoá được chuyên chở qua biên giới hoặc lãnh thổ hải quan. Thông thường, các nước đều không đánh thuế xuất khẩu để khuyến khích hoạt động xuất khẩu ngoại trừ một số ít mặt hàng là nguyên liệu thô. Ngược lại, hầu hết các mặt hàng nhập khẩu đều bị đánh thuế nhập khẩu ngoại trừ một số mặt hàng khuyến khích nhập khẩu. Về mặt kinh tế, thuế xuất nhập khẩu là một phần của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.

Nó là khoản đóng góp bắt buộc của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Thuế xuất nhập khẩu là một bộ phận của chi phí cấu thành nên giá hàng hoá nên ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu trên thị trường. Do đó, việc áp dụng một mức thuế hợp lý là rất cần thiết. Về mặt xã hội, thuế xuất nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước với các pháp nhân, thể nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu.

Nó là công cụ được nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng quản lý của mình đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, điều chỉnh các quan hệ phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa các cá nhân, tổ chức và nhà nước. Thuế nói chung và thuế xuất nhập khẩu nói riêng mang tính xã hội cao nên trong quá 3 trình xây dựng chích sách thuế và tổ chức thực hiện cần đảm bảo tính công bằng, minh bạch, rõ ràng và phù hợp với trình độ của cơ quan thu thuế cũng như người nộp thuế. Đặc điểm của thuế xuất khẩu, nhập khẩu Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có những đặc điểm sau: - Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế xuất khẩu, nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hoá xuất, nhập khẩu.

Vì vậy, thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một yếu tố cấu thành trong giá của hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Người nộp thuế là người thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá; người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng. Việc tăng, giảm thuế suất thuế xuất khẩu, nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá xuất, nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu và việc lựa chọn hàng hoá của người tiêu dùng, buộc các nhà sản xuất và nhập khẩu hàng hoá phải điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cho phù hợp. - Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương.

Hoạt động ngoại thương giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên hoạt động này đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước. Thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một công cụ quan trọng của nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc khai báo, kiểm tra, tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. - Thuế xuất nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế, các thỏa thuận song phương, đa phương, chính sách kinh tế quốc gia và nhiều yếu tố khác… Thuế xuất khẩu, nhập khẩu điều chỉnh hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá của một quốc gia. Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuất, nhập khẩu của các quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hoá thương mại, mở cửa và hội nhập kinh tế 4 như hiện nay.

Để đạt được những mục tiêu đề ra đòi hỏi chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi phù hợp tuỳ theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế, ngoài ra chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp với các Hiệp định, thỏa thuận, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia.3 Phân loại Có nhiều cách phân loại thuế xuất nhập khẩu. Sau đây là một số cách phân loại thuế xuất nhập khẩu phổ biến: (1) Phân loại theo mục đích đánh thuế - Thuế quan theo mục đích ngân khố: Nhiệm vụ chủ yếu của dạng thuế quan này là tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. - Thuế quan bảo hộ: Loại thuế quan này chủ yếu làm nhiệm vụ bảo hộ có tính chất thường xuyên nền sản xuất trong nước. - Thuế quan đàm phán trong thương mại: Loại thuế quan này thường được ấn định trên giới hạn cần thiết để bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời là phương tiện dùng để đạt được những kết quả nhất định trong đàm phán với các bên tham gia.

- Thuế quan dùng để trừng phạt: Loại thuế quan này thường được sử dụng trong trường hợp trả đũa đối với sự phân biệt thuế quan của hàng hoá do một nước sản xuất sang các nước khác và thường ấn định ở mức cao. (2) Phân loại theo xu hướng vận động của hàng hoá Sự vận động của hàng hoá trong hoạt động ngoại thương có thể diễn ra trên ba trạng thái chủ yếu: xuất, nhập, quá cảnh. Ứng với ba trạng thái đó, có ba loại thuế quan: - Thuế quan xuất khẩu: Loại thuế này đánh trên cơ sở hàng hoá xuất khẩu. Xu hướng chung là đánh thuế thấp hoặc không đánh thuế nhằm khuyến khích sản xuất trong nước.

5 - Thuế quan nhập khẩu: Loại thuế này đánh vào hàng hoá nhập khẩu. Tuỳ vào những mức độ khác nhau ở các nước đều sử dụng loại thuế này vào hai mục đích là tăng nguồn thu ngân sách và bảo hộ nền sản xuất trong nước. - Thuế quan quá cảnh: Loại thuế này đánh vào hàng hoá quá cảnh và chủ yếu phục vụ mục đích ngân khố. Hiện nay loại thuế này ít được áp dụng mà thay vào đó là lệ phí quá cảnh.

(3) Phân loại theo cách thức quy định Theo tiêu thức này thường có các dạng thuế quan sau đây: - Thuế quan cố định (hay thuế tuyệt đối): Mức thuế được quy định bằng một số tiền tuyệt đối cho mỗi đơn vị hàng hoá. Loại thuế quan này đảm bảo sự ổn định cho số thu ngân sách trước biến động giá cả. - Thuế quan tỷ lệ: Mức thuế được quy định theo một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định theo trị giá tính thuế. Đây là cách đánh thuế phổ biến hiện nay.

Vai trò Thứ nhất, điều tiết hoạt động xuất, nhập khẩu Trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá, hoạt động thương mại quốc tế diễn ra ngày càng lớn về quy mô, đa dạng về chủng loại. Trong các luồng hàng hoá xuất nhập khẩu đó có loại phục vụ nhu cầu thiết yếu cho mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, cũng có những mặt hàng chỉ phục vụ cho một số ít tầng lớp dân cư giàu có trong xã hội. Có những mặt hàng phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng, cũng có những mặt hàng gây tổn hại đến anh ninh, an toàn xã hội… Để khuyến khích hay hạn chế các loại hàng hoá đó các nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau như hạn ngạch, quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật hay thuế quan… trong đó thuế quan vẫn là công cụ hiệu quả. Như đã biết thuế quan là một bộ phận cấu thành giá hạch toán của hàng hoá xuất nhập khẩu.

Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Nhà nước sẽ đánh thuế tỷ lệ nghịch với mức độ khuyến khích đối với hoạt động xuất nhập khẩu một mặt hàng nào đó. 6 Ví dụ: Trong thời gian gần đây nhằm hạn chế việc xuất khẩu quặng nhà nước tăng thuế suất thuế xuất khẩu các mặt hàng quặng từ 0% lên 5%, 10%, 15%, 20% và để hạn chế việc nhập khẩu ô tô từ 5 chỗ ngồi trở xuống nhà nước nâng thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng này từ 60%, đến 83% Thứ hai, tạo nguồn thu ngân sách Thuế là nguồn thu chính cho ngân sách nhà nước. Có nhiều sắc thuế được áp dụng như thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng.

Tuỳ theo từng quốc gia, từng thời kỳ khác nhau mà sự đóng góp của thuế xuất nhập khẩu trong tổng thu ngân sách là khác nhau. Tỷ trọng này thường cao hơn ở các nước đang phát triển. Trong các sắc thuế được áp dụng thì thuế xuất nhập khẩu được cho là dễ huy động nhất. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò tạo nguồn thu ngân sách của thuế xuất nhập khẩu càng ngày càng giảm.

Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển với nền sản xuất trong nước yếu kém thì thuế xuất nhập khẩu vẫn đóng vai trò quan trọng. Với vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách thì thuế xuất nhập khẩu là một phận của chính sách tài chính quốc gia. Thứ ba, bảo hộ nền sản xuất trong nước Khi nói đến vai trò bảo hộ sản xuất trong nước nghĩa là chúng ta đang nói đến thuế nhập khẩu. Thuế quan bảo hộ được đưa ra với mục đích làm tăng giá một cách nhân tạo đối với hàng hoá nhập khẩu làm giảm khả năng cạnh tranh của nó đối với hàng hóa được sản xuất trong nước.Và để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất.

Nói chung, thuế quan bảo bộ được tính toán và đưa ra khi nhà nước cho rằng ở mức thấp hơn thì sản xuất trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất quyết liệt từ hàng nhập khẩu và về cơ bản thị phần sẽ nằm trong tay các nhà nhập khẩu. Trên thực tế thì rất khó có thể phân biệt rạch ròi giữa thuế quan tạo nguồn thu và thuế quan bảo hộ bởi vì thuế quan đã chứa đựng hai yếu tố là bảo hộ và tạo nguồn thu. Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản 7 xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ