Tổng quan nghiên cứu
Lưới điện truyền tải quốc gia đóng vai trò xương sống trong việc bảo đảm an ninh năng lượng và cung ứng điện liên tục phục vụ phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam. Theo thống kê của ngành điện lực, sản lượng điện năng truyền tải, khối lượng đường dây và công suất máy biến áp liên tục tăng trưởng với tốc độ bình quân trên 10% mỗi năm. Tính đến tháng 9 năm 2016, Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) đã quản lý vận hành trực tiếp 125 trạm biến áp cấp điện áp 220 kV và 500 kV trên quy mô toàn quốc. Cùng với việc triển khai Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn đến năm 2020, dự kiến lưới điện truyền tải sẽ đóng điện bổ sung thêm 58 trạm biến áp mới.
Trước yêu cầu hiện đại hóa và nâng cao năng suất lao động, Tập đoàn Điện lực Việt Nam chủ trương chuyển đổi mạnh mẽ các trạm biến áp truyền thống có người trực sang mô hình trạm bán người trực và không người trực, kết hợp xây dựng các trung tâm điều khiển xa. Bối cảnh này đặt ra bài toán cấp bách: EVNNPT không thể tiếp tục mở rộng quy mô lao động theo chiều rộng mà bắt buộc phải phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật theo chiều sâu thông qua công tác đào tạo chuyên môn chất lượng cao.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị công nghệ và Phát triển doanh nghiệp của tác giả Ninh Xuân Hiệp, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Tuấn Anh tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2017), tập trung giải quyết toàn diện thực trạng đào tạo đội ngũ kỹ sư và công nhân vận hành trạm biến áp tại EVNNPT giai đoạn 2012-2016. Đề tài xác lập hệ thống mục tiêu nhằm chuẩn hóa năng lực vận hành, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, giảm thiểu sự cố kỹ thuật và tối ưu hóa chi phí đào tạo nhân sự cho giai đoạn 2017-2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của hai khung lý thuyết quản trị nguồn nhân lực hiện đại:
Thứ nhất, mô hình phát triển nguồn nhân lực của Jerry W. Gilley và các đồng sự (2002). Mô hình này khẳng định phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực tổ chức thông qua 4 trụ cột tương hỗ: phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp, phát triển tổ chức và quản lý kết quả thực hiện công việc. Trong môi trường công nghệ cao của trạm biến áp, phát triển cá nhân gắn liền với việc làm chủ các hệ thống điều khiển số và quy trình an toàn điện.
Thứ hai, mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo 4 cấp độ của Donald Kirkpatrick (1959). Khung đánh giá bao gồm 4 cấp bậc liên hoàn: Cấp độ 1 - Phản ứng của học viên (Reaction); Cấp độ 2 - Kết quả học tập và tiếp thu kiến thức (Learning); Cấp độ 3 - Hành vi ứng dụng thực tế tại nơi làm việc (Behavior); Cấp độ 4 - Kết quả tác động trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức (Results).
Bên cạnh đó, luận văn kế thừa các khái niệm nền tảng về nhân lực kỹ thuật của PGS. Trần Xuân Cầu và PGS. Nguyễn Vân Điềm (Đại học Kinh tế Quốc dân), xác định rõ 3 cấu phần cốt lõi: thể lực, trí lực và trình độ chuyên môn kỹ thuật đặc thù trong công tác quản lý vận hành thiết bị điện cao áp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo quản trị kỹ thuật, hồ sơ lao động và thống kê tài chính đào tạo của EVNNPT cùng 4 Công ty Truyền tải điện (PTC1, PTC2, PTC3, PTC4) trong giai đoạn 2012-2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát bảng hỏi và phỏng vấn sâu chuyên gia.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Tổng số mẫu khảo sát đạt 250 cán bộ quản lý, kỹ sư và nhân viên trực tiếp vận hành tại các trạm 220 kV - 500 kV. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo 4 khu vực truyền tải Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên. Cỡ mẫu 250 người đảm bảo tính đại diện cho tổng thể hơn 2.000 lao động vận hành trạm biến áp toàn Tổng công ty.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ %, đối chuẩn dữ liệu chuỗi thời gian 5 năm và phân tích khoảng trống năng lực (GAP analysis). Phương pháp này giúp làm rõ tương quan giữa chi phí đầu tư đào tạo và mức độ sẵn sàng công nghệ của nhân sự.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2012-2016 tại EVNNPT cho thấy nhiều chuyển biến rõ nét cùng những hạn chế mang tính hệ thống:
Thứ nhất, quy mô và chất lượng nhân lực vận hành có sự chuyển dịch tích cực. Tính đến hết năm 2016, lực lượng trực tiếp quản lý vận hành 125 trạm biến áp có độ tuổi bình quân trẻ trung, trong đó nhóm dưới 35 tuổi chiếm tỷ lệ 64.8%, nhóm từ 35-50 tuổi chiếm 28.6% và trên 50 tuổi chỉ chiếm 6.6%. Về trình độ học vị, tỷ lệ kỹ sư có trình độ đại học và trên đại học đạt 52.4%, công nhân kỹ thuật qua đào tạo nghề đạt 47.6%.
Thứ hai, tần suất đào tạo gia tăng nhanh chóng nhưng nội dung chưa cân đối. Số lượt người tham gia các khóa huấn luyện kỹ thuật tăng trung bình 15.2%/năm trong 5 năm. Tuy nhiên, 76.5% thời lượng đào tạo vẫn tập trung vào quy trình vận hành và an toàn điện truyền thống. Nhu cầu đào tạo chuyên sâu về hệ thống điều khiển tích hợp máy tính (SCADA/EMS), rơ-le số và thiết bị trạm kỹ thuật số được người lao động đánh giá rất cao (chiếm 82.4% ý kiến khảo sát) nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng 38.5% nhu cầu thực tế.
Thứ ba, công tác đánh giá hiệu quả đào tạo còn mất cân đối nghiêm trọng theo thang đo Kirkpatrick. 100% các lớp học thực hiện đánh giá Cấp độ 1 (sự hài lòng của học viên đạt trung bình 88.5%) và Cấp độ 2 (tỷ lệ kiểm tra đạt yêu cầu chuyên môn đạt trên 94.2%). Ngược lại, việc đánh giá Cấp độ 3 (thay đổi hành vi và thao tác sau đào tạo) chỉ được thực hiện tại 35.0% đơn vị, và đánh giá Cấp độ 4 (tác động giảm thiểu sự cố lưới điện) hoàn toàn chưa có bộ tiêu chí định lượng độc lập.
Thảo luận kết quả
Khi tổng hợp dữ liệu, việc trình bày kết quả qua biểu đồ cơ cấu trình độ học vị và bảng theo dõi chi phí đào tạo giai đoạn 2012-2016 giúp phản ánh rõ nét sự mất cân đối giữa tốc độ đầu tư công nghệ và chất lượng nhân lực. Mặc dù tổng ngân sách đào tạo của EVNNPT tăng trưởng đều đặn trên 12% mỗi năm, nhưng chi phí phân bổ cho đào tạo chuyên gia chuyên sâu chỉ chiếm khoảng 18.3% tổng ngân sách, phần lớn còn lại dành cho bồi huấn định kỳ và diễn tập an toàn ngắn hạn.
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này xuất phát từ việc xác định nhu cầu đào tạo (TNA) tại các đơn vị truyền tải (PTC1 đến PTC4) chủ yếu dựa trên đăng ký chủ quan của cấp trạm thay vì phân tích khoảng trống năng lực theo tiêu chuẩn trạm biến áp số hóa. Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu trước đây tại Công ty Truyền tải điện 1 hay Tổng công ty Điện lực TP. Hà Nội, luận văn khẳng định bài toán quản lý trạm biến áp không người trực đòi hỏi một hệ quy chuẩn kỹ năng hoàn toàn khác biệt. Nhân viên không chỉ cần kỹ năng thao tác cơ khí - điện lực mà phải làm chủ kỹ năng công nghệ thông tin, phân tích dữ liệu rơ-le và xử lý sự cố từ xa với thời gian phản hồi giảm thiểu 50% so với trước đây.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật tại EVNNPT giai đoạn 2017-2020:
-
Chuẩn hóa quy trình xác định nhu cầu đào tạo dựa trên khung năng lực vị trí việc làm.
- Động từ hành động: Xây dựng và ban hành bộ từ điển năng lực kỹ thuật chuẩn cho chức danh Trực chính và Trực phụ trạm biến áp không người trực.
- Mục tiêu: Đạt 100% nhân viên vận hành được đánh giá định kỳ theo khung năng lực trước quý 4 năm 2018.
- Chủ thể: Ban Tổ chức và Nhân sự chủ trì, phối hợp với Ban Kỹ thuật EVNNPT.
-
Đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp và phương tiện đào tạo kỹ thuật.
- Động từ hành động: Triển khai các khóa bồi huấn chuyên sâu về trạm biến áp số IEC 61850, tích hợp công nghệ mô phỏng không gian ảo 3D và hệ thống E-learning nội bộ.
- Mục tiêu: Nâng tỷ lệ thời lượng thực hành xử lý sự cố mô phỏng lên ít nhất 45% tổng thời lượng đào tạo, giảm 20% chi phí di chuyển học tập tập trung trong giai đoạn 2018-2020.
- Chủ thể: Các Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3, 4 và Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật EVNNPT.
-
Hoàn thiện hệ thống đánh giá kết quả đào tạo theo mô hình Kirkpatrick 4 cấp độ.
- Động từ hành động: Thiết lập quy chế đánh giá hành vi làm việc thực tế (Cấp độ 3) sau 3 đến 6 tháng hoàn thành khóa học và lượng hóa chỉ số tác động sản xuất (Cấp độ 4).
- Mục tiêu: Giảm thiểu tỷ lệ sự cố lưới điện do lỗi thao tác chủ quan của con người xuống dưới mức 0.02 vụ/trạm/năm vào năm 2020.
- Chủ thể: Ban Kỹ thuật phối hợp Ban An toàn và Hội đồng Đào tạo EVNNPT.
-
Nâng cấp đội ngũ giảng viên nội bộ và hoàn thiện chính sách đãi ngộ nhân tài kỹ thuật.
- Động từ hành động: Đào tạo kỹ năng sư phạm hiện đại cho 100% kỹ sư trưởng trạm và chuyên gia kỹ thuật nòng cốt; gắn kết quả sát hạch chứng chỉ vận hành với mức lương và lộ trình thăng tiến.
- Mục tiêu: Phát triển mạng lưới 50 giảng viên kiêm chức chất lượng cao và duy trì tỷ lệ gắn kết của nhân sự kỹ thuật nòng cốt đạt trên 96% đến năm 2020.
- Chủ thể: Ban Điều hành và Tổng Giám đốc EVNNPT.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản trị nhân sự tại EVNNPT và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN): Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn và phương pháp luận rõ ràng để hoàn thiện Đề án đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2016-2020, giúp tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách đào tạo cho hơn 125 trạm biến áp hiện hữu và 58 trạm dự kiến xây mới.
- Đội ngũ kỹ sư, trưởng trạm và kỹ thuật viên trực tiếp vận hành lưới điện truyền tải: Nhân sự kỹ thuật có thể sử dụng khung tiêu chuẩn năng lực trong đề tài để tự định vị trình độ, chủ động xây dựng lộ trình học tập, trau dồi các chứng chỉ vận hành A0/Ax nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi sang trạm không người trực.
- Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị công nghệ, Quản trị nhân lực: Tài liệu đóng vai trò là case study chuyên sâu về chuyển dịch mô hình nhân sự kỹ thuật trong doanh nghiệp nhà nước nắm giữ hạ tầng thiết yếu, cung cấp hệ thống 15 bảng biểu và 10 hình vẽ minh họa chi tiết.
- Các tổ chức tư vấn đào tạo và cơ sở giáo dục nghề nghiệp khối năng lượng: Hỗ trợ các viện nghiên cứu, trường đại học kỹ thuật nắm bắt chính xác nhu cầu thị trường lao động để thiết kế các chương trình đào tạo theo đặt hàng thực tế, rút ngắn khoảng cách giữa lý thuyết học đường và vận hành lưới điện thực tế.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao EVNNPT cần ưu tiên phát triển nhân lực theo chiều sâu thay vì tuyển dụng mới? Theo quy hoạch đến năm 2020, EVNNPT đưa vào vận hành thêm 58 trạm biến áp nhưng định hướng chuyển đổi sang trạm không người trực khiến nhu cầu mở rộng biên chế bị thắt chặt. Việc đào tạo chiều sâu giúp tái cơ cấu và nâng cao năng lực cho đội ngũ hiện tại (với 52.4% có trình độ đại học trở lên), tối ưu hóa quỹ lương và đáp ứng ngay công nghệ điều khiển số mà không làm tăng định mức lao động.
Mô hình chuyển đổi trạm không người trực tác động thế nào đến công việc của nhân viên vận hành? Khi chuyển sang trạm không người trực hoặc bán người trực, khối lượng thao tác thủ công tại chỗ giảm trên 70%. Nhân viên vận hành chuyển dịch vai trò từ trực thao tác trực tiếp sang giám sát tự động hóa từ trung tâm điều khiển xa, phân tích thông số rơ-le số và quản lý bảo dưỡng thiết bị theo điều kiện vận hành thực tế (CBM), đòi hỏi chuẩn hóa kỹ năng số toàn diện.
Khung lý thuyết nào đóng vai trò cốt lõi trong việc đánh giá hiệu quả đào tạo tại EVNNPT? Luận văn ứng dụng toàn diện mô hình 4 cấp độ của Donald Kirkpatrick kết hợp mô hình 4 trụ cột của Jerry W. Gilley. Sự kết hợp này giúp định hình chu trình đào tạo khép kín từ xác định nhu cầu, thiết kế bài giảng đến đo lường phản ứng (Cấp độ 1), mức độ tiếp thu kiến thức (Cấp độ 2), khả năng ứng dụng thực tế (Cấp độ 3) và hiệu quả giảm thiểu sự cố trạm (Cấp độ 4).
Giải pháp nào giúp giải quyết khoảng trống đào tạo kỹ thuật trạm biến áp số tại EVNNPT? Giải pháp đột phá là chuyển đổi từ đào tạo lý thuyết thụ động sang đào tạo mô phỏng thực hành trên hệ thống SCADA/EMS 3D và các phòng thí nghiệm giả lập trạm số IEC 61850. Phương pháp này giúp tăng 45% thời lượng xử lý tình huống khẩn cấp, giúp học viên thành thạo kỹ năng phân tích sự cố phức tạp trước khi tiếp nhận vận hành thực tế tại hiện trường.
Dữ liệu khảo sát thực tế trong đề tài được thu thập từ những đơn vị nào? Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thực tế tại Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia và 4 đơn vị thành viên phụ trách 4 vùng miền trọng điểm gồm Công ty Truyền tải điện 1, 2, 3 và 4. Tổng số mẫu khảo sát đạt 250 phiếu đại diện cho toàn bộ các cấp trạm 220 kV và 500 kV trong giai đoạn từ 2012 đến 2016.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa thành công khung lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật theo chiều sâu, tích hợp mô hình phát triển nguồn nhân lực của Jerry W. Gilley và mô hình đánh giá 4 cấp độ của Donald Kirkpatrick vào ngành truyền tải điện.
- Đánh giá toàn diện thực trạng nhân lực quản lý vận hành tại 125 trạm biến áp của EVNNPT giai đoạn 2012-2016, chỉ ra tỷ lệ lao động trẻ dưới 35 tuổi đạt 64.8% và trình độ đại học trở lên chiếm 52.4%.
- Nhận diện chính xác 3 khoảng trống cốt lõi: công tác xác định nhu cầu đào tạo còn mang tính hình thức, nội dung đào tạo công nghệ cao (SCADA, trạm số) mới đáp ứng 38.5% nhu cầu, và việc đánh giá hiệu quả đào tạo Cấp độ 3 và 4 chưa được lượng hóa độc lập.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao gắn với lộ trình giai đoạn 2017-2020, tập trung vào chuẩn hóa từ điển năng lực, đổi mới mô phỏng thực hành và xây dựng mạng lưới 50 giảng viên nội bộ chất lượng cao.
- Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp hỗ trợ Ban lãnh đạo EVNNPT hoàn thiện Đề án đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến năm 2020, bảo đảm vận hành lưới điện an toàn, tin cậy và tiến tới mục tiêu vươn lên hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
Lộ trình triển khai các giải pháp được khuyến nghị thực hiện ngay từ đầu năm 2017 và hoàn thiện đồng bộ vào năm 2020. Các nhà quản lý doanh nghiệp năng lượng, cán bộ nhân sự và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp các số liệu và khung giải pháp từ công trình nghiên cứu này để ứng dụng vào thực tiễn chuyển đổi số ngành điện.