CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE LÝ THUYET VE QUAN LÝ NHÀ NUOC TRONG LINH VUC BAO VE RUNG 1. Khái niệm quản lý nhà nước va QLNN trong lĩnh vực bao vệ rừng Quản lý là một hiện tượng xã hội, xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, được các nhà tư tưởng, các nhà triết học và các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau tìm hiểu, nghiên cứu; có người cho quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác; có tác giả cho quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của các cộng sự cùng chung một tổ chức; cũng có tác giả lại cho rằng quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của nhóm (Hà Công Tuấn, 2002). Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng dé cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã định trước (Nguyễn Cửu Việt, 2005). Đây có thé coi là một khái niệm chung về quản lý, vì khái niệm này thích hợp với tất cả các trường hợp từ sự vận động của một cơ thể sống, một vật cơ giới, một thiết bị tự động hóa đến hoạt động của một tô chức xã hội, một đơn vị kinh tế hay cơ quan nhà nước.
Trong hoạt động quan ly thì chủ thé quản lý là con người hay tổ chức con người; chủ thé quản lý phải là đại diện có uy tín, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý, còn khách thê trong quản lý là trật tự - trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm khác nhau như: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. Vậy một cách khái quát: quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện bién động của môi trường. QLNN là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dang; trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, QLNN được hiểu theo hai cấp độ: QLNN theo nghĩa rộng là đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nước (từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tư pháp); còn tiếp cận theo nghĩa hẹp chỉ là hoạt động chấp hành của cơ quan QLNN; hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện đó là các chủ thé quản lý (Hà Công Tuan, 2002). QLNN không phải là sự quản lý đối với nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, của nhà nước đối với xã hội.
QLNN được thực hiện bởi quyền lực nhà nước; quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố băng pháp luật và đảm bảo thực hiện băng Sự cưỡng chế nhà nước; theo nghĩa hẹp QLNN có những đặc trưng co bản sau: QLNN mang tính chất quyền lực nha nước, có tính chất tô chức cao và mang tính mệnh lệnh của nhà nước, QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, QLNN mang tính tổ chức và kế hoạch, QLNN mang tính liên tục (Hà Công Tuấn, 2002). QLNN trong lĩnh vực BVR là một bộ phận QLNN nên nó có những đặc trưng vốn có, ngoài ra nó có chủ thé, đối tượng quan lý riêng, có thé khái quát như sau: QLNN trong lĩnh vực BVR là quá trình các chủ the QLNN xây dựng chính sách, ban hành pháp luật và sử dụng công cụ pháp luật trong hoạt động quản lý nhằm dat được yêu cầu, mục đích BVR nhà nước đã đặt ra (Hà Công Tuấn, 2002). Đặc điểm quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 1. Rừng là doi trợng quản lý nhà nước đặc thù Rừng là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo và có tính chất quyết định trong việc bảo vệ môi trường sinh thái toàn câu; rừng bao gôm các yêu tô thực vật, động vật, vi sinh vật, đất rừng, các yếu tố này có quan hệ liên kết cùng tạo nên hoàn cảnh rừng đặc trưng.
Rừng Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống của hang triệu người dân song trong rừng và gần rừng: diện tích rừng quốc gia được chia thành 3 loại theo chức năng và công dụng của các yếu tố để quản lý gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Vì vậy, QLNN trong lĩnh vực BVR phải áp dụng những cơ chế, chính sách, các quy định pháp luật khác nhau phù hợp với mục đích chủ yếu đối với từng loại rừng. QLNN trong lĩnh vực BVR phải tiến hành đồng bộ các công cụ quản lý, phát huy sức mạnh của cộng đồng để đạt được mục tiêu và chương trình hành động BVR (Hà Công Tuấn, 2006). Đặc trưng về chủ thể chịu sự quản lý Chủ thê chiu sự QLNN trong lĩnh vực BVR là tô chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động BVR; các chu thể chịu sự quản lý rất đa dạng, thuộc nhiều thành phần kinh tế và mỗi loại hình chủ thé có địa vị pháp lý khác nhau.
Trong đó, các chủ rừng là chủ thé chịu sự quản lý chủ yếu bao gồm: các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân; các tổ chức kinh tế như lâm trường, công ty lâm nghiệp; các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; các tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhà nước giao, cho thuê rừng là chủ thể chịu sự quản lý của nhà nước trực tiếp và chủ yếu nhất. Mỗi loại chủ thê nói trên có những đặc trưng riêng: các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng. Các tổ chức kinh tế được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê dat dé phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng rừng, quyên sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyên quyền sử dụng rừng, nhận chuyền quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Các hộ gia đình, cá nhân trong nước được nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất dé phát triên rừng hoặc công nhận quyên sử dụng rừng, quyên sở hữu rừng sản 10 xuất là rừng trồng, nhận chuyên quyền sử dụng rừng, nhận chuyên quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được nhà nước cho thuê rừng, cho thuê dat dé phát triển rừng nên QLNN trong lĩnh vực BVR đòi hỏi nhà nước phải chú trọng nghiên cứu, áp dụng các biện pháp quản lý phù hop với những đối tượng chủ thé cụ thé. Mặt khác phải coi trọng và tăng cường biện pháp giáo dục, thuyết phục và giải thích pháp luật, chế độ, chính sách của đảng, nhà nước; đồng thời kết hợp BVR với phát triển kinh tế - văn hóa nông thôn miền núi (Hà Công Tuấn, 2006, trang 20). Khách thể quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng Khách thể QLNN trong lĩnh vực BVR là trật tự QLNN về BVR; trật tự này được quy định trước hết và chủ yếu trong các quy định của pháp luật về BV&PTR như qui định về tô chức bộ máy quản lý, quyền định đoạt của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chịu sự quản lý.nhằm đạt được mục đích QLBVR của nhà nước. Nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ rừng 1.
Bảo đảm sự quản lý tập trung thông nhất của nhà nước Rừng có vai trò rất to lớn đối với cuộc sống của con người, đối với nền kinh tế cho thấy việc nhà nước thống nhất quản lý trong lĩnh vực BVR là cần thiết; điều đó sẽ đảm bảo cho việc duy trì mục tiêu chung của cả xã hội. Quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được thực hiện theo luật pháp và được thê hiện trên nhiều mặt như: quyền giao đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với các tổ chức hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản, quyền định giá rừng, quyền chuyên đổi mục đích sử dụng rừng, quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của chủ rừng và xử lý những hành vi vi phạm luật BV&PTR. Dé đảm bảo quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước trong lĩnh vực BVR thì nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cũng 11 như các phương pháp quản lý thích hợp; nếu sử dụng tốt các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thì quyền quản lý tập trung thống nhất của nhà nước được duy trì ở mức độ cao; ngược lại, nếu có những thời điểm nào đó, việc sử dụng các công cụ quản lý không đồng bộ, các phương pháp quản lý không thích ứng thì hiệu lực và hiệu quả quan lý trong lĩnh vực BVR sẽ giảm di, tình trạng vi phạm pháp luật về BVR tăng lên. Điều đó sẽ gây hậu quả không tốt đối với xã hội và làm suy giảm quyền quản lý tập trung thống nhất trong lĩnh vực BVR của nhà nước (Luật BV&PTR, 2004).
Bảo đảm sự phát triển bền vững Hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR phải bảo đảm phát triển bền vững về KTXH, môi trường, ANQP: phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch BV&PTR của cả nước và địa phương, tuân thủ theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định (Luật BV&PTR, 2004). Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà nước với chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của chủ rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo ton thiên nhiên; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yêu bằng nghề rừng. Việc đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các lợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch rừng, chính sách tài chính trong lĩnh vực BVR và các quy định về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và của chủ rừng (Luật BV&PTR, 2004). Đảm bảo tính kế thừa và tôn trọng lịch sử QLNN của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của pháp luật của nhà nước trước đây, cũng như tính lich sử trong QLNN về BVR qua các thời kỳ (Luật BV&PTR, 2004).
Nội dung hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng 1.