Đặt vấn đề, mục đích và mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.) cho đến phƣơng thức thực hiện, kiểm chứng giả định ban đầu và cuối cùng là báo cáo kết quả thực hiện công trình nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học c sở là những hoạt động tìm tòi, xem xét, điều tra, phát hiện những cái mới, tiến hành thử nghiệm hoặc vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Thông qua các hoạt động này, học sinh có đƣợc nhiều lợi ích, cụ thể nhƣ: Học sinh có cơ hội để giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học; tăng cƣờng trao đổi, giao lƣu văn hóa, giáo dục giữa các địa phƣơng và hội nhập quốc tế. Mặt khác, thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học góp phần thúc đẩy đổi mới hình thức tổ chức và phƣơng pháp dạy học, đổi mới hình thức và phƣơng pháp đánh giá kết quả học tập, phát triển năng lực học sinh, nâng cao chất lƣợng dạy học trong nhà trƣờng.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh có một số đặc điểm riêng nhƣ sau: Phải phục vụ mục đích học tập, nhận thức khoa học là động cơ chủ yếu của hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động nghiên cứu khoa học phải đặt dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở trường trung học cơ sở Từ khái niệm quản lý và hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở, theo chúng tôi: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở trường trung học c sở là quá trình Hiệu trưởng nhà trường tác động có mục đích, có kế hoạch đến các thành tố của hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh, thúc đẩy việc tìm tòi, xem xét, điều tra, phát hiện những cái mới, tiến hành thử nghiệm hoặc vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống. Một số vấn đề lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở trƣờng trung học cơ sở 1. Một số đặc điểm tâm sinh lý cơ bản của học sinh trung học cơ sở * ề mặt sinh lý: Sự phát triển cơ thể có bƣớc nhảy vọt và mất cân đối: hệ xƣơng phát triển nhanh hơn hệ cơ, dung lƣợng tim tăng lên, bộ máy sinh dục đang trƣởng thành, hoạt động thần kinh cấp cao có những đặc điểm riêng biệt,.
Tất cả những biến đổi đó gây cho thiếu niên sự tò mò, quan tâm, ý thức về bản thân, cảm giác mình đang trở thành ngƣời lớn. Sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi học sinh THCS đã làm cho các em có những đặc điểm nhân cách khác với các em ở lứa tuổi trƣớc. Lứa tuổi này là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao, có nhiều dự định lớn lao. Chính đặc điểm này của lứa tuổi ảnh hƣởng nhiều đến nhu cầu, động cơ hoạt động nghiên cứu khoa học, kích thích sự tìm tòi, ham hiểu biết của các em trong lựa chọn các vấn đề nghiên cứu.
* ề tâm lý: - Đặc điểm nhận thức: Vào lứa tuổi này, tƣ duy trừu tƣợng của các em đã phát triển, các em thích học hỏi, tìm tòi, khám phá những điều mới lạ, đặc biệt là rất thích đƣợc thử nghiệm. Do vậy, động cơ học tập của học sinh THCS rất phong phú đa dạng, nhƣng chƣa bền vững, nhiều khi còn thể hiện sự mâu thuẩn của nó. Thái độ đối với học tập của học sinh THCS cũng rất khác nhau. Tất cả các em đều ý thức đƣợc tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhƣng thái độ sự biểu hiện rất khác nhau, đƣợc thể hiện nhƣ sau từ thái độ rất tích cực, có trách nhiệm, đến thái độ lƣời biếng, thơ ơ thiếu trách nhiệm trong học tập.
Trong sự hiểu biết chung: từ mức độ phát triển cao và sự ham hiểu biết nhiều lĩnh vực tri thức khác nhau ở một số em, nhƣng ở một số em khác thì mức độ phát triển rất yếu, tầm hiểu biết rất hạn chế. Trong phƣơng thức lĩnh hội tài liệu học tập: từ chỗ có kỹ năng học tập độc lập, có nhiều cách học đến mức hoàn toàn chƣa có kỹ năng học tập độc lập, chỉ biết học thuộc lòng từng bài, từng câu, từng chữ. Trong hứng thú học tập: từ hứng thú biểu hiện rõ rệt đối với một lĩnh vực tri thức nào đó và 11 có những việc làm có nội dung cho đến mức độ hoàn toàn không có hứng thú nhận thức, cho việc học hoàn toàn gò ép, bắt buộc. Ở lứa tuổi này học sinh THCS có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tƣợng.
Khối lƣợng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn. Trí nhớ dần dần mang tính chất của những quá trình đƣợc điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức. Học sinh THCS có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tƣợng, từ ngữ, các em bắt đầu biết sử dụng những phƣơng pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại. Khi ghi nhớ các em đã biết tiến hành các thao tác nhƣ so sánh, hệ thống hoá, phân loại.
Tốc độ ghi nhớ và khối lƣợng tài liệu đƣợc ghi nhớ tăng lên. Ghi nhớ máy móc ngày càng nhƣờng chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa. Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn, các em không muốn thuộc lòng mà muốn tái hiện bằng lời nói của mình. Với những đặc điểm nhận thức nhƣ vậy, không chỉ trong học tập mà với hoạt động nghiên cứu khoa học cũng bộc lộ rất rõ những đặc điểm này.
Những đặc điểm trong tƣ duy, tƣởng tƣợng, trí nhớ sẽ góp phần thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học hiệu quả hơn, có những phát hiện mới và lập luận lô gic, sáng tạo hơn so với các lứa tuổi khác. - Sự hình thành tự ý thức của học sinh THCS Học sinh THCS bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình, các em có biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với ngƣời khác. Các em bắt đầu xem xét mình, vạch cho mình một nhân cách tƣơng lai, muốn hiểu biết mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình. Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây nhiều ấn tƣợng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập, đến sự hình thành quan hệ qua lại với mọi ngƣời.
Sự tự ý thức của lứa tuổi này đƣợc bắt đầu từ sự nhận thức hành vi của mình, từ những hành vi riêng lẻ, đến toàn bộ hành vi và cuối cùng là nhận thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình. 12 Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là mâu thuẩn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kỹ năng chƣa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách. Đặc điểm tâm lý này cũng góp phần vào việc đánh giá, lựa chọn những vấn đề nghiên cứu phù hợp với lứa tuổi của các em. Mặt khác, giáo viên cũng nhƣ ngƣời lớn cần định hƣớng đúng động cơ thực hiện các hoạt động nghiên cứu cho học sinh, giúp các em hình thành thái độ phù hợp.
Giáo viên và nhà trƣờng cũng cần đánh giá đúng hiệu quả của các sản phẩm, công trình nghiên cứu của học sinh để tạo niềm tin, động lực, ý chí phấn đấu cho các em thực hiện những nghiên cứu cao hơn, tốt hơn. Mục đích, ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sự phát triển nhân cách học sinh trung học cơ sở Cùng với sự chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh trong các hoạt động học tập và giáo dục, hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh cũng đƣợc các nhà trƣờng quan tâm phát triển. Đây thực sự là sân chơi bổ ích giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, học đi đôi với hành; tiếp cận, làm quen với phƣơng pháp, kỹ năng nghiên cứu khoa học, tạo đà cho các bậc học tiếp theo; tạo sự tự tin, tìm tòi và sáng tạo; rèn luyện cách làm việc tự lực, làm việc nhóm, tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và sinh hoạt. Từ đó, phát hiện và bồi dƣỡng năng khiếu cho học sinh ở một số môn học có liên quan, phát hiện các tài năng để bồi dƣỡng nhân tài cho đất nƣớc.
Không những thế, nghiên cứu khoa học trong nhà trƣờng là một trong những nội dung đƣợc đẩy mạnh, nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục. Để phát huy những lợi ích trên, hoạt động nghiên cứu khao học phải đƣợc chú trọng ngay trong độ tuổi học sinh, có nhƣ vậy mới có cơ sở xây dựng và phát triển đƣợc đội ngũ nhân lực chất lƣợng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đặc điểm hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở trường trung học cơ sở Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật, hiện tƣợng mà khoa học chƣa hề biết đến. Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà ngƣời nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phƣơng pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu.
13 Đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học cơ sở đó là: Ở lứa tuổi này, học sinh bắt đầu bƣớc vào tuổi dậy thì, đang chuẩn bị bƣớc vào cuộc sống tự lập, hoạt động học tập và hoạt động nghiên cứu khoa học ở tuổi này có tác dụng giúp các em trau dồi kiến thức và rèn luyện các kỹ năng sáng tạo, xây dựng ƣớc mơ trở thành các nhà khoa học thực thụ, các nhà sáng chế trong tƣơng lai. Cụ thể, hoạt động này giúp các em có năng lực vận dụng những kiến thức đã biết để ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có; có năng lực nhận biết đƣợc vấn đề trong các tình huống tƣơng tự; có khả năng độc lập nhận ra chức năng mới của đối tƣợng; có năng lực tìm kiếm và phân tích các yếu tố của đối tƣợng trong các mối tƣơng quan của nó; có khả năng kết hợp đƣợc các phƣơng pháp đã biết để đƣa ra hƣớng giải quyết mới cho một vấn đề.