đặt vấn đề về giáo dục thẩm mỹ. Mỹ thuật là môn học quan trọng trong quá trình giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tại nhà trường. Các nhà quản lý giáo dục đã rất quan tâm đến việc tổ chức hoạt động giảng dạy môn Mỹ thuật, tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mỹ để đạt hiệu quả cao nhất nhằm hình thành và phát triển một cách toàn diện nhân cách con người. Theo Eisner (1970) viết: Nếu xã hội coi giáo dục như một phương tiện để tạo ra một cá nhân của văn hóa, thì nghệ thuật được coi là một công cụ để phát triển thị hiếu văn hóa và thành tựu văn hóa.
Nếu trường học chuẩn bị cho công dân đóng góp đối với phúc lợi kinh tế của quốc gia, nghệ thuật phải được dạy như một kỹ năng nghề quan trọng. Nếu nhiệm vụ chính của các trường học là phát triển trí thông minh sáng tạo của con người, thì nghệ thuật trở thành một phương tiện để mở khóa khả năng sáng tạo tiềm ẩn của trẻ. Giáo dục nghệ thuật gắn liền với các hoạt động trong bối cảnh của nhà trường và bối cảnh của xã hội. Ở châu Mỹ, Isaacs, Marilyn Ross (1999), viết trong quyển “So sánh hai phương pháp dạy mỹ thuật và những ảnh hưởng của chúng đối với sự sáng tạo của học sinh” cho thấy nghệ thuật có một vai trò quan trọng tiềm tàng trong việc giáo dục trẻ em của chúng ta.
Quá trình vẽ, tô hoặc xây dựng hình khối là một quá trình phức tạp, trong đó đứa trẻ tập hợp các yếu tố đa dạng trong kinh nghiệm của mình để tạo nên một tổng thể mới có ý nghĩa. Trong quá trình lựa chọn, giải thích và cải cách những yếu tố này, chúng đã cho chúng ta nhiều thứ hơn là một bức tranh hay một tác phẩm điêu khắc; trẻ em qua đó đã thể hiện một phần của con người chúng: cách trẻ nghĩ, cách trẻ cảm thấy và cách trẻ nhìn thấy. Đối với đứa trẻ, nghệ thuật là một hoạt động năng động và thống nhất. 8 Triết gia người Ấn độ, Osho, Ươm Mầm (2013), cho rằng giáo dục đúng nghĩa sẽ dạy cho trẻ cách để là chính mình.
Giáo dục giúp cho hạt giống trong trẻ nảy mầm – lớn lên – và nở hoa theo cách riêng độc nhất của mình. Ông cho rằng mỹ học là giá trị đạo đức đích thực giúp cho trẻ có sự nhạy cảm để cảm nhận được vẻ đẹp thánh thiện của tâm hồn và thiên nhiên cũng như xây dựng một niềm tin vào của cuộc sống tốt đẹp. Thông qua việc dạy học môn mỹ thuật giáo viên chỉ cần giúp trẻ trở nên sáng tạo hơn, tràn trề sức sống, và giàu lòng nhân ái. Với ông hãy để trẻ tự mình làm những hoạt động sáng tạo, để trẻ hoàn toàn đắm chìm vào việc vẽ bức tranh là đủ, giáo viên không áp đặt tiêu chí, chỉ cần giúp đỡ trẻ ở khía cạnh nắm vững kỹ thuật căn bản của mỹ thuật.
Theo ông giáo viên hãy là người phụ tá giúp đỡ thay vì là người hướng dẫn. "The Arts and the Creation of Mind." Yale University Press: Nghiên cứu này khám phá vai trò của nghệ thuật trong quá trình giáo dục và phát triển trí tuệ của trẻ em, đặc biệt là trong độ tuổi từ 4-12 tuổi. Tác giả đề cập đến một trong các yếu tố quan trọng để quản lý giảng dạy Mỹ thuật là yếu tố phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá học sinh. Eisner nhấn mạnh việc sử dụng các phương pháp giảng dạy linh hoạt, đa dạng và phù hợp với từng học sinh, giúp họ phát triển khả năng sáng tạo, tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề.
Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, giữa trải nghiệm cá nhân và chia sẻ cảm xúc, giữa phương pháp truyền thống và đổi mới sẽ làm cho quá trình học tập trở nên hấp dẫn hơn. Đánh giá và phản hồi cho học sinh: Eisner lưu ý rằng việc đánh giá học sinh trong Mỹ thuật không chỉ dựa vào kết quả cuối cùng mà còn phải xem xét quá trình học tập, sự tiến bộ và phát triển của học sinh. Đánh giá nên dựa trên tiêu chí đa chiều, bao gồm cả khả năng sáng tạo, kỹ năng thực hành, sự hiểu biết về lý thuyết, tư duy phản biện, cũng như sự hợp tác và trách nhiệm trong nhóm. Giáo viên cần cung cấp phản hồi kịp thời và xây dựng cho học sinh, giúp họ nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và cải thiện kỹ năng mỹ thuật của mình.
Việc đánh giá và phản hồi nên dựa trên tiêu chí rõ ràng, công bằng và khuyến khích sự tiến bộ. Nhờ áp dụng những yếu tố quan trọng trên trong việc quản lý giảng dạy Mỹ thuật, giáo viên có thể tạo ra một môi trường học tập thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh, giúp họ không chỉ trau dồi kiến thức và kỹ năng nghệ thuật mà còn phát huy được khả năng sáng tạo, tư duy phản biện và giao tiếp. 9 Theo nhóm nghiên cứu của Taufan Amirullah Abiyoga (2019), bài viết The Positive Effects of Infrastructure Management in Fine Art Learning (A Literature Study on School Management), đăng trên Advances in Social Science, Education and Humanities Research, volume 421, cho rằng Quản lý trường học là một nỗ lực nhằm quản lý các nguồn lực tiềm năng hiện có trong trường học và được tiến hành một cách có hệ thống nhằm đạt được mục tiêu của giáo dục. Việc quản lý nhà trường ở các cơ sở giáo dục chính quy hay không chính quy đều quan trọng đối với chất lượng học mỹ thuật.
Kết quả của nghiên cứu có thể kết luận tác động tích cực của việc quản lý cơ sở hạ tầng tốt đối với việc học mỹ thuật. Quản lý cơ sở vật chất tốt có thể nâng cao chất lượng nhà trường từ mọi mặt, do đó các trường phải quan tâm đến cơ sở vật chất và hạ tầng như một giải pháp để nâng cao chất lượng học tập, đặc biệt là môn mỹ thuật. Qua các nghiên cứu ngoài nước cho thấy mục tiêu của giảng dạy Mỹ thuật giúp trẻ em trở nên sáng tạo và giàu lòng nhân ái. Với phương pháp giảng dạy năng động và thống nhất, môn Mỹ thuật sẽ giúp trẻ em biết thể hiện cảm nhận, suy nghĩ và góc nhìn của chính mình.
Bên cạnh đó việc sử dụng công cụ hỗ trợ trong hoạt động giảng dạy cũng một phần giúp kích thích sự hứng thú tiếp thu của trẻ. Đặc biệt là việc QL CSVC tốt sẽ là nền tảng cơ bản thúc đẩy chất lượng dạy học môn Mỹ thuật của nhà trường.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Huyên & Đỗ Huy, Giáo trình mỹ học đại cương, 2004, cho rằng giáo dục thẩm mỹ sẽ là loại giáo dục có hiệu quả rất lớn đối với sự phát triển toàn diện hài hoà các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và tài năng của con người. Năm 1996, việc dạy và học môn mỹ thuật (MT) được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Đến năm 2000, chương trình MT được xây dựng mới phù hợp với thực tế phát triển Giáo dục – Kinh tế - Xã hội của đất nước.
Song song đó, trong những năm 1990, các lớp năng khiếu Mỹ thuật cũng được mở ở hầu hết các trung tâm văn hoá quận, huyện, thành phố để đáp ứng nhu cầu rèn luyện văn thể Mỹ cho thiếu nhi của cả nước. Đến năm 2014 dự án “Hỗ trợ giáo dục Mỹ thuật tiểu học” của Đan mạch gọi tắt là SAEPS trở thành phương pháp đổi mới dạy học MT chính thức được phổ cập rộng rãi trên cả nước. Qua chương trình này các Giáo viên (GV) MT đã nhận định rằng những Học sinh (HS) được tham gia vào quá trình học này có hiểu biết sâu sắc hơn về bản thân và thế giới xung quanh. 10 Theo nghiên cứu của Lê Tống Ngọc Anh, đăng trên Tạp chí khoa học đại học Sư phạm Tp.HCM, số 6 (71) năm 2015, cho rằng dự án SAEPS sẽ đạt được kết quả tốt hơn nếu hiệu chỉnh được nội dung và mục tiêu đào tạo của chương trình giáo dục MT cũ tiếp cận gần hơn với mục tiêu và nội dung của SAEPS cũng như cần đổi mới công tác quản lý đào tạo bồi dưỡng, GV cần tích cực nâng cao hoạt động tập huấn, nâng cao phương pháp sư phạm.
Bên cạnh đó sự phối hợp giữa các cơ quan như: trường, các cơ sở, ban ngành giáo dục để đầu tư cơ sở vật chất cũng như tạo điều kiện tổ chức theo các phương pháp mới. Thêm vào đó, bài viết của Đinh Văn Tiên trên tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 1 – 2016, cũng cho rằng để chương trình SAEPS phát triển thì vai trò của lực lượng quản lý rất quan trọng, cán bộ quản lý cần có kế hoạch tuyển chọn/ bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ để đảm bảo chất lượng cho công tác đổi mới phương pháp dạy học MT (PPDH MT); Tích cực kiểm tra, đánh giá việc thực hiện đổi mới PPDH MT theo kế hoạch chặt chẽ và khách quan. Công tác quản lý tốt sẽ có sự phối hợp đồng bộ, tích cực trong cách triển khai và thực hiện. Theo nghiên cứu của Vi Thanh Quỳnh Anh (2017), Quản lý hoạt động dạy học môn Mĩ thuật ở các trường tiểu học huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên theo định hướng đổi mới giáo dục, luận văn đã nghiên cứu về ưu và nhược điểm của hoạt động quản lý giảng dạy môn Mỹ thuật ở các trường tiểu học; hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Mỹ thuật; hoạt động quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn Mỹ thuật.
Nghiên cứu cho rằng hoạt động giảng dạy giữ vai trò chủ đạo xuyên suốt trong quá trình hoạt động của nhà trường, để tăng cường quản lý nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên cần thể hiện qua việc: đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập để tạo động lực tích cực cho cả GV và HS; cần đầu tư thoả đáng về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để phục vụ việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh. Một số luận văn thạc sĩ QLGD cũng đề cập đến vấn đề này như: Trần Thanh Bình (2005) Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường Đại học nghệ thuật; Hà Văn Chước (2008) Một số biện pháp quản lý cấp khoa nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ngành mĩ thuật ở trường Đại học nghệ thuật Huế.