CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VIỆC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU HỌC SINH CỦA VIỆT NAM TẠI NHẬT BẢN CHƯƠNG 2. THUC TRẠNG CÔNG TAC QUAN LÝ NHÀ NƯỚC VE DU HỌC SINH CỦA VIỆT NAM TẠI NHẬT BẢN CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HUONG VA MỘT SO GIẢI PHÁP KIÊN NGHỊ CHUONG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN CUA VIỆC QUAN LY NHA NUOC VE DU HOC SINH CUA VIET NAM TAI NHAT BAN 1. Một số khái niệm 1. Quản lý và Quan lý nhà nước: - Quản ly là một khái niệm được xem xét ở hai góc độ: + Theo góc độ chính trị xã hội, quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lãnh đạo, vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế đúng, hợp ý thì xã hội phát triển, ngược lại, cơ chế sai thì xã hội phát triển chậm hoặc rỗi ren.
+ Theo góc độ hành động, quản ly được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành.Mac, quản lý, quản lý xã hội là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nao tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần một sự chỉ dao dé điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm điều khiến lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (trích C.Mac — Ănghen toàn tập, NXB CTQG, Sự that, 1993, tập 23) + Từ co sở lý luận trên, ta thay quan lý là sự tac động có ý thức của chủ thé quan lý lên đối tượng quản ly nham chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các qua trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý nhà nước: + Quản lý nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân.
+ Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành xã hội dé thực hiện quyền lực nhà nước, là tổng thé và thể chế về tổ chức và cán bộ của bộ máy nha nước có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước, do các cơ quan nhà nước (lập pháp, hiến pháp, tư pháp) có tư cách pháp nhân công pháp (công quyên) tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật dé thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tô chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Du học sinh Du học sinh là công dân Việt Nam đang được đào tạo ở nước ngoài là học sinh, sinh viên, học viên sau đại học, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, tu nghiệp sinh và học viên dự các khóa học bồi dưỡng ngắn hạn. Du học sinh gồm 2 nhóm: 1. Du học sinh tự túc: Du học sinh tự túc là công dân Việt Nam đang được đào tạo ở nước ngoài bằng kinh phí tự túc (toàn phần hoặc một phan); kinh phi của cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc doanh nghiệp ngoài quốc doanh tài trợ trực tiếp cho người học bằng nguồn kinh phí khác không qua Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Du học sinh được cấp học bồng: Du học sinh học bồng là người di học nước ngoai được nhận toan phần hoặc một phan chi phí đào tạo, chi phi đi lại, sinh hoạt phi và các chi phí khác liên quan đến học tập từ một hoặc nhiều nguồn trong các nguồn kinh phí sau đây: - Ngân sách nha nước thông qua các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước; - Hoc bổng trong khuôn khổ Hiệp định, thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam với nước ngoài hoặc với tổ chức quốc tế; - Học bổng do Chính phủ nước ngoai, các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các tô chức phi chính phủ hoặc cá nhân tài trợ thông qua Chính phủ Việt Nam.
Các chương trình học bổng Nhật Ban: Nhật Bản là một trong các quốc gia cung cấp nhiều học bổng nhất cho sinh viên Việt Nam. Học bổng của Chính phủ Nhật Bản (Monbukagakusho — MEXT Scholarship) được lập ra và cung cấp cho sinh viên nước ngoài từ năm 1954. Đây là học bổng toàn phần phổ biến nhất mà sinh viên có thé xin được. Ngoài học bồng MEXT, sinh viên có nguyện vọng du học tại Nhật Ban còn có thé nộp đơn xin một số học bổng khác như học bổng JDS do Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật (JICA) cấp, học bổng của Hiệp hội giáo dục quốc tế Nhật Ban (AIEJ), học bổng của Ngân hàng phát triển Châu A (ADB), hay nhiều trường Đại học, các Doanh nghiệp và cá nhân khác.
Các học bồng này có thé là học bổng toàn phan hay học bồng bán phan. Học bồng toàn phần bao gồm tiền vé máy bay khứ hồi, tiền học phí, trợ giúp nghiên cứu, sinh hoạt phí. Học bong ban phan thường chi hỗ tro sinh viên tiền học phí hoặc một khoản trợ cấp sinh hoạt hàng tháng. Tùy theo loại học bồng, số tiền trợ cấp du học sinh có thể nhận nằm trong khoảng từ 50.000 Yên mỗi tháng.
Đề nhận được học bồng, ngoài thành tích học tập tốt, người nộp đơn còn phải biết chọn cho mình trường học đúng nguyện vọng, khả năng, và đặc biệt quan trọng là nghệ thuật phỏng van và thi tuyển hoc bồng. - Học bổng của Chính phủ Nhật Bản (Monbukagakusho — MEXT Scholarship) gồm: Học bổng cho các nhà lãnh đạo trẻ (YLP — Young Leader Program), Học bổng nghiên cứu sinh, Học bổng đảo tạo giáo viên, Học bong danh cho sinh vién dai hoc, cho sinh vién cao dang ky thuat, sinh viên trung cấp, Học bồng dành cho sinh viên học về Nhật Ban. Học bồng của AIEJ (Hiệp hội giáo duc quốc tế Nhật Bản) do các nhà tài trợ cung cấp, gồm: Học bồng sau đại học, Học bồng đại học, Học bồng dành cho sinh viên trao đổi ngắn hạn. Tên của học bổng được gắn với tên của các nha tài trợ như: Jinnai International Student Scholarship Program, Kansai International Student Scholarship Program, The Japan Security Scholarship Foundation JSSF Education Awards for Overseas Students.
Học béng JDS: Chương trình JDS dành cho các cán bộ trẻ đang làm việc tại các cơ quan Nhà nước, các nhà nghiên cứu và các cá nhân, những người sau khi học xong có thê trở thành các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực công tác của họ hoặc trở thành các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Đây cũng là một học bồng toàn phần dành cho đối tượng thạc sĩ. Học bồng AYF: Học bổng Thanh niên Châu A (Asian Youth Fellowship) là học bổng của Chính phủ Nhật Bản cung cấp thông qua Trung tâm Châu á của Quỹ Nhật Bản, nhăm mục đích chuẩn bị cho chương trình sau đại học tại Nhật Bản cho những sinh viên Châu Á. Mục đích của chương trình là phát triển nguồn nhân lực cho hợp tác và phát triển khu vực, cũng như tăng cường hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước Chau A.
Quản lý du học sinh Khác với một số quốc gia khác như Anh quốc, Mỹ, Úc, Canada, Singapore., Nhật bản chưa mở rộng tuyén học sinh quốc tế đưới 18 tuổi. Học sinh Việt nam sang Nhật ban bắt đầu từ sau tốt nghiệp phổ thông trung học. Vì vậy, khái niệm quản lý du học sinh ở đây không mang nghĩa “giám hộ”. Quản lý đu học sinh là quản lý công dân Việt Nam đang học tập ở nước ngoài.
Quản lý du học sinh là thực hiện công tác phố biến đầy đủ tới du học sinh mọi quyên lợi và nghĩa vụ của du học sinh trong thời gian sinh sông và 10 học tập ở nước ngoài; hướng dẫn du học sinh tuân thủ luật pháp của nước sở tại; giáo dục tư tưởng chính trị cho du học sinh về đường lối và chủ trương của Đảng và nhà nước Việt nam; Quản lý du học sinh là giúp đỡ du học sinh giải quyết các thủ tục hành chính, thủ tục lãnh sự, đặc biệt trong trường hợp du học sinh gặp rủi ro, tai nạn ở nước so tal; Quản lý du học sinh là động viên lưu học sinh hoc tập tốt dé mang kiến thức về phục vụ đất nước, phục vụ bản thân và gia đình. Quản lý du học sinh (theo ông Nguyễn Xuân Vang, Cục trưởng Cục Dao tạo với nước ngoài, Bộ Giáo dục và Dao tạo) /a nhằm mục đích giúp đỡ bảo vệ công dân của ta dang học tập và sinh sống ở nước ngoài dé du học sinh hoc tốt, mang kiến thức về phục vụ đất nước, phục vụ bản thân và gia đình. Nhìn chung, đa số du học sinh Việt Nam ở nước ngoài đều xác định rõ ràng động cơ học tập, có lập trường quan điểm vững vàng, ý thức kỉ luật tốt, chăm chỉ học tập, nghiên cứu, chấp hành đúng quy định của Nhà nước đối với du học sinh ở nước ngoài. Nhiều du học sinh có thành tích phan dau, rén luyén tốt đã duoc Dai sứ quán Việt Nam tại các nước tuyên dương, khenthưởng.
Một số du học sinh đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngay tại nước đang theo học. Các du học sinh đều có tinh thần cộng đồng cao, hăng hái tham gia vào các hoạt động tập thể và các hoạt động hướng về quê hương đất nước.Tại nhiều nước đã thành lập được Hội sinh viên Việt Nam, Hội Lưu học sinh với nhiều hoạt động gắn kết các thành viên là du học sinh. Tuy nhiên, còn có một bộ phận không nhỏ các du học sinh chưa đến làm thủ tục đăng kí công dan tại Cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, không làm thủ tục xin gia hạn thời gian học tập, không báo cáo khi về nước công tác, phần lớn du học sinh diện tự túc kinh phí không đến làm thủ II tục đăng kí công dân nên công tác thống kê, quản lý du học sinh đang gặp nhiều khó khăn trở ngại mà đối tượng chịu thiệt thòi lại chính là du học sinh. Như vậy, quan lý nhà nước về du học sinh là sự chỉ huy, điều hành xã hội dé thực hiện quyên lực nhà nước, tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật dé thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyên hạn mà nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều khiển các quan hệ xã hội và hành vi của du học sinh Việt nam ở nước ngoài.