phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở và tình trạng học sinh bỏ học từ năm 2004 đến năm 2008 ở tỉnh Hoà Bình. Chƣơng 3: Định hƣớng và các biện pháp quản lý tăng cƣờng công tác xã hội hoá giáo dục trung học cơ sở tỉnh Hoà Bình từ nay đến năm 2015 nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.vn Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu GD là sản phẩm của xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và phát triển của GD chịu sự chi phối của sự phát triển kinh tế - xã hội, và ngƣợc lại với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con ngƣời, tạo ra môi trƣờng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa GD và cộng đồng xã hội thƣờng xuyên đƣợc diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Với tầm quan trọng nhƣ vậy, ngày nay GD luôn đƣợc coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia.
Việc quan tâm, đầu tƣ, huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển GD là sách lƣợc lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù bản chất của GD ở các nƣớc có khác nhau nhƣng đều cho thấy XHH sự nghiệp GD là cách làm phổ biến, kế cả ở những nƣớc có nền công nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao. XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc lâu đời và là bƣớc phát triển của một chủ trƣơng phát triển GD đƣợc thực hiện từ nhiều năm qua. Với tƣ tƣởng ''lấy dân làm gốc'', ''Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng'' đã đƣợc Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền GD nƣớc nhà.
Dƣới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ mở rất ít trƣờng học, chủ yếu trƣờng học đƣợc mở ra cho con em quý tộc phong kiến và con nhà giàu. Con em lao động không đƣợc chính quyền quan tâm, ngƣời dân muốn đƣợc học phải tự lo dƣới hình thức học ở trƣờng tƣ do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www.vn các thầy đồ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù chữ. Cách mạng tháng tám thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực hiện các quan điểm ''giáo dục là sự nghiệp của quần chúng''. Ngay từ những ngày đầu của nƣớc Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra ''Lời kêu gọi chống nạn thất học''.
Trong lời kêu gọi, Ngƣời đã nêu rõ phƣơng châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ ''Những ngƣời đã biết chữ hãy dạy cho những ngƣời chƣa biết chữ. những ngƣời chƣa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chƣa biết chữ thì chồng bảo, em chƣa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chƣa biết thì con cái bảo, ngƣời ăn ngƣời làm chƣa biết chữ thì chủ nhà bảo; các ngƣời giàu có thì mở lớp học tƣ gia dạy cho những ngƣời chƣa biết chữ'' {25}. Hƣởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ Chủ Tịch, cả nƣớc đã trở thành một xã hội học tập. Tiêu biểu, sôi động nhất đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngƣợc, từ hậu phƣơng cho đến nơi tiền tuyến.ngƣời ngƣời đi học, nhà nhà đi học; trƣờng lớp chỉ là những nhà, lán đơn sơ.
Tƣ tƣởng giáo dục ''ai cũng đƣợc học hành'' của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống. Đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, cả hai miền Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt đƣợc những thành quả nhất định. Song do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển GD. Thay vì thực hiện sự ''quản lý GD của nhà nƣớc'', chúng ta đã ''nhà nƣớc hoá GD'' làm cho GD rơi vào thế bị động, không thu hút đƣợc các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động GD.
Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục xuống cấp, lạc hậu, sự phát triển của giáo dục không đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, chƣa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại. Sự định hƣớng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www. Đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị trí, vai trò của mình trong công cuộc đổi mới đất nƣớc. Bên cạnh đó, việc đa dạng hoá phát triển GD lại một lần nữa ngày càng phát huy ƣu thế của nó.
Việc ''huy động toàn xã hội làm GD, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền GD quốc phòng toàn dân dƣới sự quản lý của nhà nƣớc'' đã trở lên vô cùng bức thiết. Đảng ta đã khẳng định ''xã hội hoá'' là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội. Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khóa VIII (tháng 12-1996) chỉ rõ: ''Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc và của toàn dân'' [4]. Đến Nghị quyết TW 6 khoá IX, Đảng ta khẳng định: ''Đẩy mạnh xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục'' [5].
Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4-2006) đã chỉ rõ: ''Thực hiện xã hội hoá giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp.để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội'' [6]. Để thực hiện chủ trƣơng XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về Phƣơng hƣớng và chủ trƣơng xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách XHH, nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động XHH lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.
Ngày 18/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao [20]. Bộ GD&ĐT ban hành một số văn bản hƣớng dẫn thực hiện công tác XHHGD; xây dựng đề án ''Quy hoạch phát triển xã hội hoá giáo dục giai đoạn 2005-2010'' [14] vv. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.vn Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, Nghị định, Thông tƣ, Nghị quyết của Đảng, Nhà nƣớc về công tác GD; các cơ quan Liên Bộ, các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục (QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu về vấn đề XHHGD. Nguyên Bộ trƣởng Phạm Minh Hạc đã khẳng định: ''Xã hội hoá công tác giáo dục là một tƣ tƣởng chiến lƣợc, một bộ phận của đƣờng lối giáo dục, một con đƣờng phát triển giáo dục nƣớc ta''[35;16]; tác giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá và đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là tƣ tƣởng chiến lƣợc của Đảng.
Tƣ tƣởng đó đƣợc tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý cách mạng của Việt Nam. Vấn đề XHHGD cũng đã đƣợc nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn. Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về XHHGD nhƣ nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn thanh Bình trong cuốn "Xã hội hoá giáo dục nhận thức và hành động". Các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác XHHGD.
Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài, luận văn đã đề cập và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD nhƣ: Luận văn của tác giả Phạm Thuý Hiền với đề tài: ''vấn đề xã hội hoá giáo dục mầm non với sự nghiệp phát triển giáo dục''; Luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về ''Biện pháp tăng cƣờng công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Ninh''. Sở GD&ĐT Hoà Bình cũng đã tiến hành nghiên cứu đề tài '' Phát triển các trung tâm học tập Cộng đồng''. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm về quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài ngƣời và hoạt động này ngày càng phát triển trong xã hội.
Trong quá trình lao động đấu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 http://www.vn tranh với thiên nhiên, để sinh tồn và phát triển con ngƣời cần phải hợp sức nhau lại để tự vệ và lao động kiếm sống. Những hoạt động tổ chức, phối hợp, điều khiển. hoạt động của mọi ngƣời nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu ấn đầu tiên của hoạt động quản lý. Quản lý là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài ngƣời.
Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhƣng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội.