Chương 1 giới thiệu đề tài, lý do chọn đề tài, trình bày tổng quan nội dung nghiên cứu và bố cục luận văn. Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản phục vụ cho đề tài bao gồm các vấn đề liên quan trong kiểm thử dựa trên mô hình, phương pháp đặc tả mô hình bằng máy trạng thái UML. Các khái niệm về biểu đồ tuần tự và các phân đoạn trong thiết kế. Cuối cùng là giới thiệu đồ thị dòng điều khiển và đề xuất ba độ đo kiểm thử áp dụng cho bài nghiên cứu.
Chương 3 nghiên cứu đề xuất cách biến đổi từ biểu đồ tuần tự sang đồ thị dòng điều khiển và các thuật toán biến đổi. Phương pháp sinh ca kiểm thử sau khi hoàn thành độ thị dòng điều khiển trong đó chia ra 2 kịch bản kiểm thử. Một cho các phân đoạn thông thường (các phân đoạn không chứa luồng song song) và một kịch bản kiểm thử cho các phân đoạn chứa luồng song song (Par, Seq). Phần cuối chương 3 trình bày phương pháp sinh dữ liệu kiểm thử từ đồ thị dòng điều khiển, một số nghiên cứu liên quan để thấy được ưu nhược điểm của bài nghiên cứu so với các phương pháp khác.
Chương 4 giới thiệu công cụ thực nghiệm, các ví dụ thể hiện tính đúng đắn và khả thi của phương pháp đề xuất. Kết quả thu được thực tế từ chương trình và rút ra ý nghĩa của phương pháp đề xuất. Cuối cùng là kết luận, định hướng mở rộng và tài liệu tham khảo. 3 Chương 2: CÁC KHÁI NIỆM VÀ TỔNG QUAN KIỂM THỬ DỰA TRÊN MÔ HÌNH 2.1 Quy trình chung của kiểm thử dựa trên mô hình Mô hình UML được thiết kế từ các đặc tả yêu cầu của hệ thống.
Mô hình có thể được biểu diễn bằng các loại mô hình và biểu đồ khác nhau. Việc xây dựng mô hình còn phải dựa trên các yếu tố dữ liệu đầu vào và đầu ra. Mô hình này được sử dụng để sinh đầu vào cho các ca kiểm thử. Tiếp đến, chúng ta sẽ sinh giá trị đầu ra mong muốn ứng với mỗi bộ đầu vào.
Khi kết thúc bước này, chúng ta đã có các ca kiểm thử. Sau khi thực thi các ca kiểm thử tương ứng theo từng giai đoạn hoặc phương pháp tiếp cận, kết quả thu được sẽ được so sánh với kết quả mong đợi. Từ đó quyết định hành động tiếp theo như sửa đổi mô hình hoặc dừng kiểm thử, v. Thiết kế Các bản đặc tả yêu cầu Mô Phản hồi hình Phản hồi Tạo tự động Các chuỗi kiểm Kiểm thử dự Kết luận: Pass / thử đoán Fail Theo dõi Điều khiển Phản hồi Thực thi Hình 2.1 Qui trình kiểm thử dựa trên mô hình.1 mô tả về quy trình chung của kiểm thử tự động dựa trên mô hình [6].
Kiểm thử tự động dựa trên mô hình gồm các giai đoạn sau: Sinh mô hình dựa trên các yêu cầu và chức năng của hệ thống. Sinh các ca kiểm thử (bộ đầu vào và giá trị đầu ra mong đợi cho mỗi ca kiểm thử). Chạy các kịch bản kiểm thử để phát hiện các lỗi/khiếm khuyết của sản phẩm. So sánh kết quả đầu ra thực tế với kết quả đầu ra dự kiến.
Quyết định hành động tiếp theo (sửa đổi mô hình, tạo thêm ca kiểm thử, dừng kiểm thử, đánh giá chất lượng của phần mềm) [1].2 Đồ thị dòng điều khiển Đồ thị dòng điều khiển (Control Flow Graph - CFG) là đồ thị được sinh ra từ biểu đồ tuần tự bởi một thuật toán hồi qui, với các ràng buộc và thông số trong thiết kế biểu đồ tuần tự thì sẽ được bóc tách, biến đổi để sinh dữ liệu kiểm thử. Đồ thị dòng điều khiển là một đồ thị biểu diễn trực tiếp của biểu đồ tuần tự và được tạo nên từ bảy loại nốt nối với nhau bởi các đường. Bảy loại nốt đó là [4]: Nốt bắt đầu (Start node): là nốt khởi đầu của đồ thị. Nốt đơn vị (BN – Block node): là nốt biểu thị cho một thông điệp hoặc một tuần tự của của các thông điệp.
Mỗi thông điệp m(i) bao gồm thông tin của lớp gửi và lớp nhận và có cấu trúc ( m(i), ParameterList, returnValue ). Mỗi thông số của một thông điệp có thể là một thuộc tính của ràng buộc OCL. Nốt quyết định (DC – Decision node): là nốt biểu thị cho một hàm điều kiện như điều kiện đúng (hoặc sai) cần được thỏa mãn để lựa chọn các toán hạng tương ứng trong một phân đoạn. Nốt rẽ nhánh (FN – Fork node): là nốt biểu thị đầu vào của phân đoạn PAR hoặc SEQ.
Nốt kết hợp (JN – Join node): là nốt đầu ra (hay kết thúc) của phân đoạn PAR hoặc SEQ. Nốt kết thúc (End node): là nốt kết thúc của tất cả các chu trình trong đồ thị. Một đồ thị dòng điều khiển G được biểu diễn như sau: G <A, E, in, F> với: o ‘in’ là nốt khởi tạo (nốt bắt đầu). o F là tập các nốt hay trạng thái cuối cùng của đồ thị.
o A là tập các nốt bao gồm (BN CN) với BN là nốt đơn vị (Block node), CN = (DN MN FN JN) được gọi là tập các nốt điều khiển. o E là tập các cạnh nối giữa các nốt. E = {f (x; y) | x, y A F} Cấu trúc mỗi nốt A được đề xuất như sau: < nodeId, nodeType, nodeDetails, outEdge > với: nodeId: là nhãn duy nhất được đính kèm vào mỗi nốt. nodeType = {decision, merge, fork, join} với mỗi và nodeType = {block, initial, final} cho tất cả các nốt còn lại., | q là số của một tin nhắn trong BN}.
Mỗi nodeDetails được định nghĩa là một bộ ba < m, s, r > với mỗi bản tin xác định 5 được đối tượng gửi s, đối tượng nhận r và tên của mỗi bản tin m cho tất cả các nốt đơn vị BN. Mỗi thông điệp bao gồm các thông tin bên gửi từ biểu đồ lớp và có cấu trúc < m, ParamList, rValue >. Các thông tin này sẽ được đính kèm vào cả các bộ thông số ParamList = { } và trả về giá trị rValue. Ngoài ra, một thông số của một phương thức còn có thể được cung cấp từ các thuộc tính, ràng buộc các lớp.
Một thông số hay một giá trị trả về được tách riêng và các thông tin ràng buộc từ biểu đồ lớp và có cấu trúc < name, type, value, constraint > với name là tên của bộ thông số hoặc thuộc tính, type là dạng dữ liệu, value là giá trị được gán. Còn constraint được lấy từ ràng buộc OLC được khai báo từ các thuộc tính biểu đồ lớp hoặc đã được đính kèm vào biểu đồ tuần tự. outEdge = { ,…, | q là số cạnh nối}. Mỗi được xác định bằng < sourceNode, targetNode > [13].3 Các độ đo kiểm thử Độ đo kiểm thử là một công cụ giúp ta đo mức độ bao phủ chương trình của một tập ca kiểm thử cho trước.
Mức độ bao phủ của một bộ kiểm thử (tập các ca kiểm thử) được đo bằng tỷ lệ các thành phần thực sự được kiểm thử so với tổng thể sau khi đã thực hiện các ca kiểm thử. Bài nghiên cứu này chia ra 3 tiêu chuẩn bao phủ, để dễ hình dung hơn về 3 tiêu chuẩn bao phủ này chúng ta sẽ bám theo ví dụ về kiểm thử phân đoạn Par đã được biến đổi sang đồ thị dòng điều khiển như Hình 2. I1 I2 I3 Bi FN1 m1 Bi par m2 m3 B1 B1 B2 m4 B2 JN1 m5 Bk Bk Hình 2.2 Đồ thị dòng điều khiển tương ứng của phân đoạn Par. 6 C1: Độ bao phủ yếu: Đường kiểm thử đi qua tất cả các nốt rẽ nhánh (các nốt quyết định) của đồ thị dòng điều khiển.
Đối với ví dụ Hình 2.16 ta có bảng các ca kiểm thử như sau: ng 2.1 Ca kiểm thử độ bao phủ yếu ID Input EO RO Note tc1 Bi-FN1-B1-JN1-Bk C2: Độ bao phủ trung bình: Đường kiểm thử đi qua tất cả các nhánh của đồ thị dòng điều khiển. Bảng các ca kiểm thử tương ứng cho ví dụ Hình 2.16 như sau: ng 2.2 Ca kiểm thử độ bao phủ trung bình ID Input EO RO Note tc1 Bi-FN1-B1-JN1-Bk tc2 Bi-FN1-B2-JN1-Bk C3: Độ bao phủ mạnh: Được áp dụng cho các thiết kế có sử dụng các phân đoạn song song có các luồng chạy song song như Par, Seq. Khi đó các nốt chạy song song có chia sẻ dữ liệu với nhau sẽ được hoán đổi vị trí để tạo ra các đường kiểm thử phủ được nhiều trường hợp hơn.3 Ca kiểm thử độ bao phủ mạnh ID Input EO RO Note tc1 Bi-FN1-B1-JN1-Bk tc2 Bi-FN1-B2-JN1-Bk tc3 Bi-FN1-B1-B2-JN1-Bk Với ví dụ Hình 2.16, ngoài các ca kiểm thử thông thường không xét đến trường hợp các thông điệp song song có điểm chia sẻ dữ liệu ta thu được hai ca kiểm thử ct1 và ct2 như ảng 2. Ngoài ra, vì hai thông điệp B1 và B2 nằm trong phân đoạn Par nên chúng có thể được thực hiện song song hoặc đảo trật theo một thứ tự bất kì.
Trong trường hợp này ta thu được một ca kiểm thử khác là tc3 (Bi-FN1-B1-B2-JN1-Bk) như ảng 2. 7 Chương 3: PHƯƠNG PHÁP SINH ĐỒ THỊ DÒNG ĐIỀU KHIỂN TỪ BIỂU ĐỒ TUẦN TỰ 3.1 Thuật toán biến đổi biểu đồ tuần tự sang đồ thị dòng điều khiển Biểu đồ tuần tự biểu diễn thiết kế theo trình tự thời gian. Bên trong bao gồm nhiều thành phần và các thông tin đính kèm. Mỗi thành phần, cấu trúc biểu diễn một hoạt động khác nhau trong ca sử dụng.
Biến đổi biểu đồ tuần tự sang đồ thị dòng điều khiển là một công việc khó khăn vì chúng không tuân theo một qui luật nào cả. Để làm được điều này chúng ta phải liệt kê tất cả các thành phần, khối toán tử bên trong biểu đồ tuần tự và dùng thuật toán tương ứng biến đổi cho từng toán tử và thành phần đó. Thuật toán này không những phải hoạt động đúng mà còn phải đảm bảo tính đúng đắn khi các thành phần và toán tử lồng ghép vào nhau trong thiết kế. Thuật toán sinh đồ thị dòng điều khiển Đầu vào của thuật toán 1 sinh đồ thị dòng điều khiển là tệp xmi là lưu trữ dạng kí tự của biểu đồ tuần tự.
Vì vậy, để biến đổi được từ biểu đồ tuần tự sang đồ thị dòng điều khiển thì bên trong thuật toán 1 sử dụng các thư viện đọc tệp xmi, từ đó bóc tách dữ liệu theo các từ khóa tương ứng với từng phần tử thiết kế trong biểu đồ tuần tự.1 miêu tả một số từ khóa cơ bản dùng để nhận biết và đọc dữ liệu trong tệp xmi.