mở đầu sẽ trình bày một số kiến thức nền tảng của RNAi và trình bày tổng quát về siRNA bao gồm chức năng, hoạt động, ứng dụng, hạn chế và các phương pháp giải quyết bài toán siRNA. Chƣơng 2: Các quy tắc thiết kế siRNA hiệu quả: Trình bày khái quát các phương pháp đã được các nhà khoa học thực nghiệm để giải quyết vấn đề của bài toán. Đó là tìm các quy tắc thiết kế siRNA hiệu quả trong cả hai cách tiếp cận sinh học và sinh học tính toán. Chƣơng 3: Phương pháp dự đoán khả năng ức chế gen của siRNA.
Chương này sẽ tập trung vào giới thiệu tổng quan về nghiên cứu xây dựng các mô hình dự báo và cách áp dụng các phương pháp học SVM và RF để dự đoán khả năng ức chế gen của siRNA. Đồng thời trình bày phương pháp học biểu diễn dữ liệu áp dụng cho phần thực nghiệm. Chƣơng 4: Thực nghiệm đánh giá. Đây là phần nêu lên kết quả đạt được trong suốt quá trình thực hiện, ngoài ra còn đề cập đến những khó khăn vấn đề vướng mắc phát sinh, sau đó là đánh giá những kết quả đạt được chi tiết ở từng bước thực hiện Chƣơng 5: Kết luận.
Tổng kết lại những nội dung chính của luận văn, đưa ra hướng đi và hướng áp dụng thực tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐOẠN NGẮN RNA CÓ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ (siRNA) Phần đầu của chương này trình bày tổng quan về sự can thiệp RNA, phần thứ hai là thảo luận chi tiết về siRNA gồm lịch sử ra đời, cơ chế hoạt động, chức năng, ứng dụng của siRNA cũng như giải pháp giải quyết bài toán siRNA. Can thiệp RNA Can thiệp RNA (RNAi) là một hệ thống bên trong các tế bào sống, giúp kiểm soát các gen đang hoạt động đó là các đoạn ngắn RNA giúp tế bào ức chế sự biểu hiện của các gen có trình tự tương đồng với nó.
Các cơ chế, thành phần chính của RNAi RNAi là một cơ chế căn bản để kiểm soát thông tin di truyền hay cách vô hiệu hoá hoạt động của các gen do hai nhà khoa học Andrew Z. Fire và Craig C. Mello khám phá ra và công bố trên tạp chí Nature vào ngày 19/12/1998 [1]. Andrew Fire và Craig Mello đã nghiên cứu cơ chế điều khiển biểu hiện gen ở giun tròn (Caenorhabditis elegans) và cho rằng khi mRNA “chiều dịch mã” và “chiều đối mã” gặp nhau thì chúng sẽ kết hợp lại thành những mRNA sợi kép.
Hai ông đã kiểm chứng lại giả thuyết của mình bằng cách tiêm các đoạn RNA xoắn kép để ức chế các phân tử mRNA sợi kép chứa các mật mã di truyền quy định nhiều protein khác của giun tròn. Kết quả đều thu được protein được mã hóa bởi các gen đó không được tổng hợp thành protein. Qua đó Fire và Mello đã rút ra được kết luận rằng có thể RNA dạng chuỗi kép đã làm các gen bị bất hoạt. Kết quả của nghiên cứu này vô cùng quan trọng bởi chúng cung cấp lời giải thích cho các hiện tượng nghiên cứu ở thực vật được các nhà nghiên cứu trước đó gọi là “Đồng ức chế”.
Khám phá của họ đã làm sáng tỏ nhiều quan sát thí nghiệm mâu thuẫn và khó hiểu trong nhiều năm trước đây, đồng thời tiết lộ một cơ chế tự nhiên để kiểm soát dòng thông tin di truyền trong tế bào. Báo hiệu sự khởi đầu cho một lĩnh vực nghiên cứu mới.Công trình được công bố và được trao giải Nobel Y học năm 2006. RNAi được coi như một phương thức miễn dịch tự nhiên giúp sinh vật chống lại sự xâm nhập của virus RNA bằng cách phân huỷ các trình tự nucleotit tương đồng của chúng [8]. Nó làm trung gian kháng lại cả acid nucleic ngoại bào và nội bào, cũng như điều khiển sự biểu hiện gen mã hóa protein.
Nó được thực hiện khi có sự xuất hiện của phân tử RNA mạch kép trong cơ thể sinh vật gây nên ức chế sự biểu hiện gen của một loại trình tự đặc hiệu. RNAi được sử dụng trong khoa học cơ bản nghiên cứu chức năng của gen. Ngoài ra, cơ chế này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc điều hòa các biểu hiện gen, tham gia bảo vệ cơ thể chống nhiễm virus và kiểm soát gen thay đổi đột ngột. Với nghiên cứu mới này, giới khoa học cũng đang tìm ra các ứng dụng của RNAi trong những nghiên cứu y học chữa bệnh bằng liệu pháp gen, các ứng dụng trên cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm với chất lượng tốt hơn.
Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh do virut, bệnh tim, ung thư, rối loạn nội tiết và nhiều chứng bệnh khác. Quá trình RNAi bao gồm các bước sau (Hình1. Đầu tiên là RNA sợi kép (dsRNA) bị cắt thành những đoạn ngắn (siRNA) bởi một enzyme gọi là dicer sẽ tách dsRNA thành các phân tử RNA ức chế nhỏ (siRNA) có kích thước khoảng 19 đến 25 nucleotit. 5‟ AUGGACUAGCAU… 3 ‟ RNA mạch đôi DICER DICER siRNA 19-25 nt RISC RISC mRNA AAAAA mRNA AAAAA Hình 1.1: Sơ đồ hoạt động của RNAi và siRNA Sau đó các siRNA được giải xoắn thành hai sợi đơn ngắn đó là hai sợi sence và antisence.
Sợi antisense ngắn (siRNA) được nạp vào phức hợp RISC (RISC – RNA Induced Silencing Complex) và sợi antisense RNA trong phức hợp RISC bắt cặp với mRNA bằng liên kết tương đồng giữa các bazơ. Khi đã được nhận diện các mRNA nhanh chóng bị cắt đứt ở khoảng giữa của chuỗi xoắn kép siRNA-mRNA và bị tiêu hủy bởi các RNA nuclease (Helicase) có trong RISC. Sợi RNA bị phân cắt, tiếp tục hình thành các siRNA. Quá trình tiếp diễn liên tục như vậy sẽ phân hủy các bản mã sao hình thành, kết quả là ức chế biểu hiện của gen mong muốn [1].
Có ba thành phần chính liên quan đến quá trình can thiệp RNA: siRNA, enzyme Dicer, và phức hệ (RISC). Trong đó siRNA là một đoạn ngắn của dsRNA (RNA mạch kép) có kích thước khoảng 19 đến 25 nucleotit với gốc phosphoryl là đầu 5 ' đến 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 phân tử nucleotit ở đầu hydroxy 3'. Dicer là một endonuclease giống như RNase III sẽ cắt RNA sợi đôi thành các đoạn ngắn RNA (siRNA) và RISC là một phức hợp đa protein (muti-protein) có chứa enzyme helicase và một số protein, trong đó quan trọng nhất là protein thuộc họ Agronaut hoạt động như một endonuclease và có vai trò cắt mRNA. Vai trò của RNAi RNAi có nhiều chức năng quan trọng trong tế bào như: Bảo vệ tế bào chống lại gen ký sinh trùng, virus và các yếu tố di truyền vận động (Transposon).
Điều hòa biểu hiện gen. Duy trì hình dạng nhiễm sắc thể và tăng cường phiên mã… 1. Thành phần của RNAi RNAi gồm 2 thành phần siRNA và miRNA siRNA (small interfeing RNA, short interfering RNA) là các RNA ngắn có kích thước khoảng 19 đến 25 nucleotit, được hình thành từ các RNA sợi đôi, tham gia vào quá trình tổng hợp protein, siRNA có khả năng điều khiển protein họ Argomaute tới đích điều hòa. miRNA (micro RNA) là những đoạn RNA ngắn khoảng từ 19 đến 25 nucleotit, không tham gia vào quá trình tổng hợp protein.
Nghiên cứu can thiệp RNA Ở thực vật sự ức chế của RNA (RNA silencing) được phát hiện khi các nhà khoa học thực nghiệm quá trình biến đổi gen trên cây dạ yến thảo với dự kiến là có màu tím hơn (Hình 1. Năm 1990 các nhà khoa học muốn tăng cường hoạt động của gen tổng hợp chalcone synthase (gen CHS là gen có liên quan đến chu trình hình thành chất anthocyanin trong hoa dạ yến thảo), một loại enzyme tham gia vào việc sản xuất sắc tố anthocyanin họ đã thí nghiệm bằng cách chuyển gen quy định màu tím chalcone synthase dưới sự điều khiển của một promoter mạnh (promoter 35S). Tuy nhiên thay vì hình thành màu tím của cánh hoa như mong đợi thì các cánh hoa thể hiện các đốm màu khác nhau và thậm chí là màu trắng. Năm 1994, Cogoni và các cộng sự đã tiến hành một thí nghiệm nhằm phát triển màu cam của nấm Neurospora crassa thông qua việc chuyển một gen có chức năng tạo ra carotenoid (một dạng sắc tố hữu cơ).
Tuy nhiên nấm lại không có màu cam. Hiện tượng này được các nhà khoa học gọi là "Cosuppresion" nghĩa là "Đồng ức chế" bởi vì sự biểu hiện của gen ngoại sinh và gen nội sinh trong hoa dạ yến thảo đều bị ức chế như nhau. Thuật ngữ "Đồng ức chế" là quá trình mô tả sự mất đi của các mRNA do gen nội sinh (gen có sẵn của tế bào) và gen ngoại sinh (gen được chuyển vào trong tế bào) phiên mã ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 Tuschl và đồng nghiệp công bố phát hiện siRNA gây ức chế gen ở động vật đã mở đường cho việc thí nghiệm RNAi trong các tế bào động vật có vú tạo ra các cơ hội mới cho phương pháp điều trị nghiên cứu và điều trị.2: Đồng ức chế của cây dạ yến thảo, cây bên trái là cây dại, bên phải là cây chứa biến đổi gen.
Nguồn: Wikipedia Sự suy thoái của RNA đích thường bắt đầu ngay lập tức sau khi siRNA vào tế bào. Thông thường hiệu quả ức chế có thể quan sát thấy trong vòng 48 giờ khi chuyển vào một siRNA trong tế bào. Tuy nhiên, có những protein có sự luân chuyển với tốc độ rất chậm, có thể được quan sát thấy lâu hơn. Trong hầu hết các trường hợp các gen đích không hoàn toàn ngừng, đó là lý do can thiệp RNA được gọi là một công nghệ ức chế (ức chế trong trường hợp động vật biến đổi gen được tạo ra bởi sự tái tổ hợp tương đồng).
Ức chế sự biểu hiện của các gen mục tiêu thường kéo dài 5-7 ngày, hai thử nghiệm trong ống và ngoài ống nghiệm thấy rằng một siRNA có thể gây ức chế với các thời gian khác nhau ở các loài khác nhau. Một siRNA chống những thành phần protein có chức năng vận chuyển lipid trong hệ thống tuần hoàn cho thấy có hoạt động ở chuột chỉ một vài ngày và sau chín ngày đã trở lại đến 70%) với các loài linh trưởng không phải người là 11 ngày. Thời gian tác dụng của một siRNA có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như gen đích, các loài. Trong tế bào shRNA có thể được sử dụng thay cho siRNA tổng hợp nhằm mở rộng gen im lặng.
RNAi chính là một quy trình PTGS biểu hiện gen bị ức chế bởi một mRNA và RNAi có thể làm thay đổi cấu trúc nhiễm sắc thể trong nhân. Do đó ảnh hưởng đến phiên mã.