Chương 1: Tổng quan về dự báo chuỗi thời gian Chương 2: Mô hình dự báo chuỗi thời gian mờ của Song và Chissom Chương 3: Ứng dụng phương pháp dự báo chuỗi thời gian sử dụng logic mờ trong dự báo mức độ tăng trưởng phương tiện giao thông đường bộ Việt Nam 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO CHUỖI THỜI GIAN 1.1 Vấn đề dự báo Dự báo là nghệ thuật và khoa học tiên đoán các sự kiện xảy ra trong tương lai. Những dữ liệu quan sát liên tục cho một hiện tượng (vật lý, kinh tế.) trong một khoảng thời gian sẽ tạo nên một chuỗi thời gian. Phân tích chuỗi thời gian có mục đích nhận dạng và tập hợp lại các yếu tố, những biến đổi theo thời gian mà nó có ảnh hưởng đến giá trị của biến quan sát. Dùng dự báo để làm cơ sở đánh giá các sự kiện trong quá khứ hoặc sử dụng một số mô hình toán học để đự báo kết quả trong tương lai.2 Chuỗi thời gian 1.1 Khái niệm Chuỗi thời gian là một chuỗi các điểm dữ liệu được đo theo từng khoảng khắc thời gian liền nhau theo một tần suất thời gian thống nhất.
Ví dụ chuỗi thời gian về báo cáo tài chính, tỷ giá tiền tệ, chỉ số tiêu dùng đều là những thể hiện rất thực tế của chuỗi thời gian. Phân tích chuỗi thời gian bao gồm các phương pháp để phân tích dữ liệu chuỗi thời gian, từ đó trích xuất ra được các thuộc tính thống kê có ý nghĩa và các đặc điểm của dữ liệu. Dự đoán chuỗi thời gian là việc sử dụng mô hình để dự đoán các sự kiện thời gian dựa vào các sự kiện đã biết trong quá khứ để từ đó dự đoán các điểm dữ liệu trước khi nó xảy ra [6]. Dữ liệu của chuỗi thời gian là một chuỗi các giá trị của một đại lượng nào đó được ghi nhận là thời gian.
Ví dụ: Số lượng nhập học của sinh viên trong khoảng 10 năm học. Các giá trị của chuỗi thời gian của đại lượng Y được ký hiệu là Y1, Y2,…., Yt với Y là giá trị Y tại thời điểm t. Các chuỗi thời gian thường được mô hình hoá dạng tổng (hay tích) của 3 thành phần: thành phần xu hướng, thành phần mùa, chu kỳ hay biến đổi ngẫu nhiên. 4 - Thành phần xu hướng: Là sự thay đổi trên biến quan trắc Y xét trên một thời gian dài.
- Thành phần mùa: Là sự biến đổi có tính tuần hoàn trong một chu kỳ. - Chu kỳ: Là thời gian mà hiện tượng sẽ lặp lại nó phối hợp với xu hướng trong chu kỳ nhiều năm. - Biến đổi ngẫu nhiên: là sự dao động ngẫu nhiên xung quang xu thuế, đều này làm ảnh hưởng đến chu kỳ và theo mùa của chuỗi quan sát. Ta có công thức tổng quát như sau:: Yt = Tt + St + ut hay Yt = Tt St ut Y: là biến phụ thuộc.
T: là thành phần xu hướng. S : là thành phần mùa. U : là thành phần sai số ngẫu nhiên. Thành phần mùa là thành phần chỉ mức độ xảy ra thường xuyên chẳng hạn như tháng, quý, tuần, giờ,.
giống như các biến chuỗi thời gian.2 Các phương pháp phân tích dữ liệu chuỗi thời gian Các phương pháp để dự báo: phương pháp định tính, phương pháp định lượng. - Phương pháp định tính: khảo sát lấy yêu cầu, nghiên cứu thị trường,… - Phương pháp định lượng: tập trung vào các mô hình như: mô hình chuỗi thời gian, mô hình nhân quả,…Trong luận văn này sẽ tập trung vào mô hình chuỗi thời gian.1 Các mô hình dự báo chuỗi thời gian Có nhiều mô hình dự báo chuỗi thời gian, trước khi vào các mô hình ta nên tìm hiểu một số khái niệm cơ bản, cũng như cơ sở lý thuyết được sử dụng trong các mô hình.2 Hàm tự tương quan Tự tương quan có thể được định nghĩa như là quan hệ tương quan giữa các thành viên của chuỗi của các quan sát được sắp xếp theo thời gian. 5 Hàm tự tương quan đo lường phụ thuộc tuyến tính giữa các cặp quan sát y(t), y(t+k), ứng với k = 1, 2, …(k gọi là độ trễ). Với mỗi độ trễ k, hàm tự tương quan tại độ trễ k được xác định qua độ lệch giữa các biến ngẫu nhiên Yt, Yt+k so với các giá trị trung bình và được chuẩn hoá qua phương sai.
Hàm tự tương quan tại các độ trễ khác nhau sẽ có giá trị khác nhau, ta có thể ước lượng hàm tự tương quan tại độ trễ thứ k qua phép biến đổi trung bình của tất cả các cặp quan sát, phân biệt bằng các độ trễ k, với giá trị trung bình 2 mẫu là µ, được chuẩn hoá bởi phương sai. Chẳng hạn, cho mỗi chuỗi N điểm, giá trị rk của hàm tự tương quan tại độ trễ thứ k được tính như sau: yt : chuỗi thời gian dừng tại thời điểm t. yt + k : chuỗi thời gian dừng tại thời điểm t+k. µ: giá trị trung bình của chuỗi dừng.
rk : giá trị tương quan giữa yt và yt+k tại độ trễ k. rk = 0 thì không có hiện tượng tương quan. Về mặt lý thuyết, chuỗi dừng khi tất cả các rk=0 hay chỉ vài rk khác không. Chúng ta xem xét hàm tự tương quan mẫu, do đó sai số mẫu sẽ xuất hiện vì vậy, hiện tượng tự tương quan khi nk = 0 theo ý nghĩa thống kê.
Khi hàm tự tương quan giảm đột ngột, có nghĩa n k rất lớn ở độ trễ 1, 2 và có ý nghĩa thống kê (|t| > 2). Những nk này được xem là những “đỉnh” và ta nói rằng hàm tự tương quan giảm độ ngột sau độ trễ k nếu không có những “đỉnh” ở độ trễ k lớn hơn k. Hầu hết hàm tự tương quan sẽ giảm đột ngột sau độ trễ 1, 2. 6 Nếu hàm tự tương quan của chuỗi thời gian không dừng không giảm đột ngột mà trái lại giảm nhanh nhưng đều: không có đỉnh, ta gọi chiều hướng này là “tắt dần”.3 Hàm tự tương quan từng phần Tương tự như xác định hàm tự tương quan giữa các cặp y(t) và y(t+k), ta xác định hàm tự tương quan từng phần tập trung đến các quan sát y (t+1),…,y(t+k-1).
Hàm tự tương quan từng phần tại đỗ trễ k Ckk được ước lượng bằng hệ số liên hệ y(t) trong mối kết hợp tuyến tính bên dưới. Sự kết hợp được tính dựa trên tầm ảnh hưởng của y(t) và các giá trị trung gian y (t+k) Y(t+k) = Ck1y(t+k-1) + Ck2y(t+k-2) + ….+ Ckk-1y(t+1) + Ckk y(t) + e(t) Giải phương trình hồi quy dựa trên bình phương tối thiểu vì hệ số hồi quy Ckj phải được tính ở mỗi độ trễ k, với j chạy từ 1 đến k.4 Sai phân Sai phân chỉ sự khác nhau giữa giá trị hiện tại và giá trị trước đó. Phân tích sai phân nhằm làm cho ổn định giá trị trung bình của chuỗi dữ liệu, giúp cho việc chuyển đổi chuỗi thành một chuỗi dừng. Sai phân lần 1: z(t) = y(t) – y (t-1) Sai phần lần 2 : h(t) = z(t) – z (t-1) 1.5 Mô hình tự hồi quy (Auto Regressif - AR) Mục đích chính của mô hình AR (p) là hồi quy trên chính số liệu quá khứ ở những chu kỳ trước, mô hình chuỗi thời gian tự hồi quy hoàn toàn có cấu trúc như sau: Yt = µ + 1 Yt-1 + 2 Yt-2 +.+ p Yt-p + ut (1) Yt : là quan sát thứ t đối với biến phụ thuộc sau khi trừ đi giá trị trung bình của chính nó, và ut là thành phần sai số có động thái tốt có trung bình bằng 0 và phương sai không đổi và không tương quan với us nếu t s (khái niệm này gọi là nhiễu trắng), là những thông số cần tìm và µ là hệ số chặn.
Thành phần hằng số được bỏ qua vì Yt được biểu diễn dạng độ thiên lệch khỏi giá trị trung bình. 7 Mô hình tự hồi quy tổng quát có các giá trị hiện tại và quá khứ của Y được sử dụng trong mô hình và không có biến hồi quy nào khác. Giá trị của Y tương lai phụ thuộc vào giá trị của nó trong quá khứ cộng với một yếu tố ngẫu nhiên. Mô hình AR(p) nếu nó là quá trình dừng đòi hỏi phương trình (1) phải có nghiệm nằm ngoài ( -1<= <=1).
Nếu giá trị tuyệt đối > 1, Yt sẽ có xu hướng ngày càng lớn và vì thế có thể trở thành một chuỗi gia tăng đột biến. Nhận xét: Mô hình AR(p) với ưu điểm là cho phép dự báo giá trị tương lai qua giá trị biến trễ với một yếu tố ngẫu nhiên mà không xét thêm biến vào mô hình hồi quy, nghĩa là dữ liệu giải thích cho bản thân của nó. Nhược điểm của mô hình này chỉ thích hợp cho việc dự báo đối với những dữ liệu chuỗi thời gian tài chính có sự biến động, đột biến trong thời gian xem xét [3].6 Mô hình trung bình trượt (Moving Average - MA) Là một hàm tuyến tính phụ thuộc vào các biến sai số dự báo quá khứ và hiện tại. Mô hình sau đây gọi là mô hình trung bình trượt - MA bậc q, ký hiệu MA(q).
Là một trung bình trọng số của những sai số mới nhất. Yt = µ + 1vt-1 + 2vt-2 +. Phương pháp bình quân được sử dụng trong các dự báo thống kê. Trên cơ sở xây dựng một dãy số bình quân để xây dựng mô hình dự báo.
Trong mô hình trung bình trượt, quá trình mô tả hoàn toàn bằng tổng các giá trị quá khứ và số hạng ngẫu nhiên hiện hành theo độ trễ. Nhận xét : Mô hình MA xác định được những biến động trong quá khứ và cả hiện tại. Nhưng chỉ thích hợp cho việc dự báo trong ngắn hạn.7 Mô hình kết hợp tự hồi quy và trung bình trượt ARMA (Autoregressive moving average) Là sự kết hợp giữa các công thức tự hồi quy và trung bình trượt tạo ra mô hình ARMA, bao gồm những quan sát dừng quá khứ và những sai số dự báo quá khứ và hiện tại. Mô hình ARMA (p,q) , trong đó p là số hạng tự hồi quy, q là số hạng trung bình trượt, công thức có dạng tổng quát như sau: Yt = 1 Yt-1 + 2 Yt-2 +.+ p Yt-p + ut + 1vt-1 + 2vt-2 +.
+ qvt-q Yt : là chuỗi dừng 1, 2,….: là các hệ số phân tích hồi quy 1vt-1 ,…., qvt-q : quan sát dừng và sai số dự báo quá khứ Mô hình ARMA (p,q) là tìm các giá trị thích hợp của p, q, với p là bậc tự hồi quy và q là bậc trung bình trượt. Việc xác định p, q sẽ phụ thuộc vào đồ thị hàm tự tương quan.