MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Những hệ tư tưởng, triết lý về giáo dục trong lịch sử thế giới có thể được kể tới như sau: Malcolm Knowles (24/8/1913–27/11/1997), người khởi xướng chuyên ngành “Giáo dục học người lớn” (Adults Andragogy), đã nhận định rằng, tuổi đời của công nghệ ngày càng rút ngắn, trong khi đó tuổi đời con người ngày càng kéo dài. Nếu như trước đây, tuổi thọ của một công nghệ kéo dài 300 năm (khoảng 3 đời người) thì nay trong một đời người, công nghệ có thể thay đổi tới 3 lần. Thế giới đã và đang chứng kiến sự bùng nổ thông tin.
Cách học trước đây tiếp cận nội dung đã không còn phù hợp nữa. Thật khó để nhồi nhét tất cả kiến thức đang thay đổi không ngừng, người học đang được hướng tới kiểu học phát triển năng lực, biết cách hiểu và vận dụng kiến thức mới thật sự là quan trọng, không phải chỉ cần học thuộc lòng. Đó là một yêu cầu đặt ra với đổi mới phương pháp dạy học. Theo tác giả Nguyễn Chí Hiếu (2020), mô hình giáo dục đã thay đổi từ năm 1893 đến nay là mô hình giáo dục thế kỷ 21.
Từ sự so sánh này cho thấy nhiệm vụ của người dạy và người học cần thiết đổi mới. Với phương pháp dạy học của mô hình giáo dục thế kỷ 21, người dạy không còn làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức nữa, mà chuyển sang nhiệm vụ hỗ trợ, giúp đỡ, truyền cảm hứng để giúp cho người học tự lực chiếm lĩnh được kiến thức, phát triển được những năng lực nền tảng, đáp ứng được với nhu cầu xã hội ngày càng hiện đại, ngày càng phát triển không ngừng. Người học phải có niềm yêu thích đối với kiến thức, có sở thích, đam mê mới có thể sáng tạo, biết giải quyết vấn đề từ bài học ở trường lớp đến tình huống trong cuộc sống thực tế. Sự so sánh giữa 2 mô hình giáo trước đây và hiện nay như sau: xxiv Bảng 1: So sánh mô hình giáo dục 1893 và mô hình giáo dục thế kỷ 21 Mô hình giáo dục 1893 Mô hình giáo dục thế kỷ 21 Mục tiêu Truyền tải kiến thức Phát triển năng lực nền tảng Người dạy Chọn lọc, sắp xếp, phân phối Truyền cảm hứng kiến thức Người học Nhảy cóc qua những môn học Khám phá những đam mê và từng ngày mục đích học tập, mục đích cuộc sống mỗi ngày Với mô hình giáo dục thế kỷ 21 hiện nay và trong tương lai, các phương pháp dạy học hiện đại/tích cực được kể tới như: PPDH nêu và giải quyết vấn đề, PPDH tình huống, PPDH sơ đồ tư duy, PPDH hội thảo.
Riêng ở Việt Nam, trong “Kế hoạch thực hiện mục tiêu phát triển bền vững lĩnh vực giáo dục và đào tạo đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030” (Ban hành kèm theo Quyết định số 2161/QĐ–BGDĐT ngày 26/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), có nội dung: “Tăng cường các nội dung giáo dục có tính thực tiễn, sử dụng phương pháp dạy học tích cực, học qua trải nghiệm/nghiên cứu, học qua các dự án/tình huống và phương pháp tiếp cận trường học toàn diện”. Điều này cho thấy, học qua dự án là một xu hướng mà đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của giáo dục Việt Nam. Việc học chú trọng lý thuyết đã không còn phù hợp với xã hội hiện nay nữa. Những nhà giáo dục, những giảng viên phải tích cực, góp phần tham gia xây dựng vào sự chuyển biến này nhằm đưa nền giáo dục ngày càng phát triển.
Học qua dự án/tình huống là nêu ra một dự án/tình huống để khi giải quyết dự án/tình huống thì sinh viên lĩnh hội được bài học. PPDH theo dự án là cách thức, con đường dùng trong dạy học khi học thông qua việc thực hiện dự án. Về phía người nghiên cứu, từ thực tế hơn 15 năm giảng dạy, nhận thấy môn Thực tập Điện tử mới chỉ đáp ứng được một phần cơ bản về chất lượng. Ba điểm hạn xxv chế còn tồn tại của môn này là kỹ năng nghề nghiệp chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất, khả năng tư duy vận dụng vào thực tế chưa sâu, kỹ năng mềm còn yếu.
Các PPDH tích cực sẽ khắc phục những hạn chế trên. Các PPDH tích cực có thể có ít nhất một trong những đặc điểm sau: chia lớp học theo nhóm (PPDH làm việc nhóm, PPDH công đoạn,.), cho sinh viên tự lực tham gia học tập (PPDH đóng vai, PPDH tình huống, PPDH sàng lọc,.), tạo không khí học tập tích cực vui tươi (PPDH bể cá, PPDH chốt kiến thức bằng câu đố,. Trong khi đó, 5 nguyên tắc dạy học tích cực đó là: liên hệ thực tế, học theo nhóm, cho sinh viên tự lực học/ học thông qua việc chủ động tìm hiểu, tạo không khí học tập tích cực, cần chốt lại kiến thức quan trọng. PPDH theo dự án gần như vượt lên trên các PPDH tích cực kể trên vì thỏa hết 5 nguyên tắc dạy học tích cực đã nêu (Nguyễn Thị Minh Phượng, Phạm Thị Thúy, Lê Viết Chung, 2020).
Theo tác giả Nel Noddings (Nguyễn Sỹ Nguyên dịch, 2021) nghiên cứu, từ trước đây, nhà giáo dục học Dewey cho rằng giáo dục như một “dự án” có mục đích “tăng triển” (luôn tham gia trải nghiệm, học hỏi nhiều hơn nữa) trong khi nhiều người khác xem giáo dục như một “dự án” có mục đích hướng tới xây dựng con người/cách sống lý tưởng. Thế nên, giáo dục nói chung và giảng dạy nói riêng, bản thân nó cũng được xem như là/ gắn với một dự án. Đề tài này lựa chọn việc “vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào môn Thực tập Điện tử” để nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Từ đó, kết quả học tập sẽ giúp nâng cao 3 điểm hạn chế đã kể trên: kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tư duy vận dụng vào cuộc sống, kỹ năng mềm.
Trong các công ty, xí nghiệp trong thực tế, công việc được lên kế hoạch và thực hiện với tên gọi “dự án”. Do đó PPDH theo dự án tạo ra môi trường giúp người học làm quen trước với công việc sau khi tốt nghiệp. Với tất cả những lý do trên, người nghiên cứu đã quyết định chọn đề tài “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN THỰC TẬP ĐIỆN TỬ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. Mục tiêu nghiên cứu xxvi Mục tiêu nghiên cứu đề tài là: Đề xuất giải pháp vận dụng phương pháp dạy học (PPDH) theo dự án cho môn Thực tập Điện tử (TT ĐT) nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả môn học.
Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lí luận về PPDH theo dự án để vận dụng vào môn học TT ĐT. Nghiên cứu thực trạng dạy học môn học TT ĐT. Đề xuất giải pháp vận dụng PPDH theo dự án cho môn TT ĐT, thực nghiệm qua 1 bài giảng, từ kết quả của buổi học sẽ kết luận PPDH theo dự án cho kết quả cao hơn phương pháp dạy học truyền thống. Khách thể và đối tượng nghiên cứu Khách thể: Phương pháp dạy học cho môn học kỹ thuật.
Đối tượng nghiên cứu: PPDH theo dự án vận dụng cho môn TT ĐT. Giả thuyết nghiên cứu Nếu đề xuất được giải pháp vận dụng PPDH theo dự án cho môn TT ĐT phù hợp thì sẽ nâng cao được chất lượng và hiệu quả dạy học môn học về kiến thức, kỹ năng, thái độ. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: nghiên cứu về vận dụng PPDH theo dự án cho môn TT ĐT trong học kỳ 1 năm học 2020–2021 ở trường đại học SPKT thành phố HCM đối với các lớp học của người nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Đề tài lựa chọn 2 phương pháp nghiên cứu chính là: Phương pháp nghiên cứu về lý thuyết bao gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp về lý thuyết của PPDH theo dự án, về cơ sở lí luận của vận dụng PPDH theo dự án vào môn TT ĐT.
Phương pháp nghiên cứu về thực nghiệm bao gồm: phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn dạy học (thực trạng của phương pháp dạy học trước giờ, kết quả điểm số cho sinh viên, cho giảng viên của buổi học thực nghiệm), phương pháp quan sát khoa học (từ kinh nghiệm dự giờ các giảng viên khác của người nghiên cứu, người xxvii nghiên cứu quan sát sinh viên trong buổi học thực nghiệm, các giảng viên dự giờ quan sát sinh viên trong buổi thực nghiệm), phương pháp thực nghiệm khoa học (dạy thực nghiệm qua 1 bài học), phương pháp chuyên gia (mời một số giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy môn Thực tập Điện tử đóng góp ý kiến cho bài giảng theo phương pháp dự án). Các phương pháp kể trên được thực hiện kèm theo sử dụng các phiếu hỏi ở phần phụ lục 2, 3. Đóng góp của luận văn Luận văn đã đạt được những kết quả sau: Góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy (kiến thức, kỹ năng và đặc biệt là thái độ) cho môn TT ĐT của trường đại học SPKT thành phố HCM nói riêng và môn TT ĐT nói chung. Từ kết quả cao về kiến thức, kỹ năng, thái độ, sẽ thêm rèn luyện về kỹ năng nghề nghiệp, khả năng tư duy vận dụng vào thực tế, kỹ năng mềm như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình,.
Tăng cường tính tích cực trong học tập; hướng dẫn cho sinh viên cách học tập, tự học, nghiên cứu; giúp sinh viên biết cách tìm kiếm, tự xây dựng nên những kiến thức của bài học cần lĩnh hội. Góp phần giúp các giảng viên có thêm cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và kinh nghiệm, tài liệu tham khảo để vận dụng dạy dự án vào giảng dạy môn TT ĐT. Cấu trúc của luận văn Luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị. Trong đó phần nội dung được cấu trúc theo 3 chương, ở mỗi chương đều có phần kết luận của chương, cụ thể như sau: Chương 1: Cơ sở lí luận về vận dụng phương pháp dạy học theo dự án cho môn Thực tập Điện tử xxviii Chương 2: Thực trạng phương pháp dạy học môn Thực tập Điện tử Chương 3: Đề xuất giải pháp vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào môn Thực tập Điện tử Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN CHO MÔN THỰC TẬP ĐIỆN TỬ 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài a. Lịch sử của phương pháp dạy học theo dự án Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) và Aristotle (334 – 322 tr.