MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu đề tài Sự tiến bộ của công nghệ thông tin đã làm tăng khối lượng dữ liệu theo cấp số nhân theo từng năm. Trong số những dữ liệu này ngày càng chứa nhiều thông tin cá nhân. Lượng dữ liệu cá nhân này đã thu hút sự chú ý của nhiều bên nhằm tạo ra các dịch vụ phù hợp và cá nhân hóa hơn, dựa trên thông tin nhân khẩu học có sẵn.
Vì lý do này, các doanh nghiệp và tổ chức trong các lĩnh vực khác nhau thu thập dữ liệu cá nhân có thể được chia sẻ trong nhiều hoàn cảnh khác nhau (vì lý do kinh doanh, xã hội hoặc pháp lý). Điều này đã mang lại những thách thức mới để bảo vệ quyền riêng tư của những người có dữ liệu trong tập dữ liệu đã xuất bản. Do đó, bảo vệ quyền riêng tư khi xuất bản dữ liệu (PPDP) đã trở thành một lĩnh vực được các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm. Một kịch bản điển hình của PPDP được mô tả trong Hình 1, thể hiện các giai đoạn khác nhau của quá trình xử lý dữ liệu.
Một giả định chính của mô hình PPDP là những kẻ tấn công có thể tồn tại trong số những người nhận dữ liệu, những kẻ có ý định khám phá thông tin nhạy cảm về các cá nhân. Do đó, mục tiêu của các kỹ thuật PPDP là sửa đổi dữ liệu bằng cách làm cho dữ liệu ít cụ thể hơn để có thể bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân; trong khi vẫn duy trì tính hữu ích của dữ liệu được ẩn danh. Hình 1: Tổng quan về bảo vệ quyền riêng tư khi xuất bản dữ liệu 1 HVTH: NGUYỄN PHÚC PHI HỔ GVHD: TS TRƯƠNG TUẤN ANH Bản chất của PPDP là tạo ra các tập dữ liệu hữu ích cho nhiều tác vụ khác nhau, vì thông thường, tất cả các kịch bản tiềm năng của việc sử dụng dữ liệu đều chưa được biết tại thời điểm xuất bản. Ví dụ khi công bố dữ liệu, không thể xác định tất cả những người nhận dữ liệu.
Do đó, bất kỳ bên kiểm soát dữ liệu nào liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu cá nhân đều cần áp dụng các cơ chế bảo vệ quyền riêng tư. Tuy nhiên, đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì những nhân viên của đơn vị xuất bản dữ liệu thường không phải là chuyên gia trong lĩnh vực bảo mật dữ liệu. Hơn nữa, thường không có phương pháp nào đảm bảo rằng việc ẩn danh được tiến hành hiệu quả trong một tổ chức. Điều này có thể khiến họ sử dụng các phương pháp hủy nhận dạng đơn giản (ví dụ: xóa tất cả các thuộc tính nhận dạng trực tiếp như tên và số căn cước công dân), trước khi công bố dữ liệu.
Tuy nhiên, người ta đã chứng minh rằng chỉ riêng phương pháp này là không đủ để bảo vệ quyền riêng tư [1]. Sự cố vẫn có thể xảy ra do kết hợp các tuple khác nhau hoặc có kiến thức cơ bản về các cá nhân để suy luận về danh tính của họ. Việc xác định lại một cá nhân đạt được bằng cách liên kết các thuộc tính, được gọi là thuộc tính khả định danh (quasi- identifiers-QID), chẳng hạn như giới tính, ngày sinh hoặc mã ZIP. Mô hình ẩn danh nổi tiếng nhất là k-anonymity [2], cung cấp khả năng bảo vệ quyền riêng tư bằng cách hiển thị dữ liệu không thể phân biệt được với ít nhất k-1 dữ liệu khác.
Tuy nhiên, thông tin nhạy cảm được ẩn danh bằng k-anonymity không tuyệt đối an toàn và tồn tại nhược điểm với một số kiểu tấn công. Nhiều mô hình được đề xuất để khắc phục các điểm yếu này, trong đó có l-diversity [3] , kèm theo đó là nhiều kỹ thuật liên quan để đạt được mô hình này [4] [5]. Do đó, trọng tâm của đề tài sẽ tập trung giải quyết vấn đề phát triển một thuật toán ẩn danh để bảo vệ danh tính của người dùng bằng cách chuyển đổi dữ liệu sang mô hình l-diversity, đồng thời vẫn giữ được tính hữu ích của tập dữ liệu để phục vụ cho việc khai phá dữ liệu, ví dụ như khi một bệnh viện muốn công bố dữ liệu nhập viện của các bệnh nhân cho các bên thứ ba để phục vụ cho công tác thống kê hoặc phân tích dữ liệu. 2 HVTH: NGUYỄN PHÚC PHI HỔ GVHD: TS TRƯƠNG TUẤN ANH 1.
Mục đích nghiên cứu Khi thực hiện ẩn danh hóa dữ liệu, một trong những tiêu chí quan trọng cần cân nhắc là sự đánh đổi giữa độ bảo mật và chất lượng của dữ liệu. Mặt khác, dữ liệu thường được khai thác bằng nhiều mô hình , trong đó sử dụng luật kết hợp là phương thức phổ biến. Mục tiêu của đề tài là phát triển giải thuật ẩn danh để bảo vệ quyền riêng tư khi thực hiện công khai dữ liệu thu thập tuy nhiên vẫn có khả năng đảm bảo chất lượng dữ liệu được giữ lại tốt nhất. Giải thuật ẩn danh hóa dữ liệu đạt bằng cách biến đổi dữ liệu đạt được mô hình l-diversity để cải thiện điểm yếu trước một số kiểu tấn công so với mô hình k-anonymity đồng thời đảm bảo dữ liệu đầu ra vẫn có chất lượng khi được sử dụng cho các bên khai phá dữ liệu.
Giới hạn đề tài Đề tài này sẽ tập trung tìm hiểu: • Các giải thuật phù hợp để ẩn danh tập dữ liệu dạng bảng đạt được mô hình l-diversity • Giải thuật cung cấp dữ liệu khi ẩn danh vẫn hữu ích khi thực hiện khai thác bằng các kỹ thuật dựa trên luật kết hợp. • Giải thuật sẽ hoạt động với các thuộc tính khả định danh và thuộc tính nhạy cảm được người dùng định sẵn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Chương trình ẩn danh dữ liệu là một phương pháp để bảo vệ quyền riêng tư của người dùng trong việc chia sẻ dữ liệu.
Khi chương trình ẩn danh dữ liệu được áp dụng, các bên tham gia sẽ chỉ có thể truy cập thông tin được ẩn danh, thay vì thông tin cá nhân của từng người. Tuy nhiên, việc áp dụng chương trình ẩn danh dữ liệu có thể dẫn đến việc mất mát thông tin quan trọng trong quá trình xử lý dữ liệu. 3 HVTH: NGUYỄN PHÚC PHI HỔ GVHD: TS TRƯƠNG TUẤN ANH Thuật toán di chuyển tuple là một phương pháp để giải quyết vấn đề này bằng cách di chuyển các giá trị trong các tuple để tạo ra các tuple mới. Việc di chuyển các giá trị này có thể giúp giảm thiểu số lượng luật kết hợp bị mất đồng thời hạn chế số lượng luật kết hợp mới được sinh ra mà vẫn đảm bảo tính ẩn danh của dữ liệu.
Ngoài tiêu chí k-anonymity , giải thuật còn đạt được tiêu chí l-diversity, khác phục được những vấn đề mà mô hình trước còn gặp phải. Vì vậy, trong lĩnh vực ẩn danh hóa dữ liệu để bảo vệ quyền riêng tư của người dùng, đề tài này có những ý nghĩa khoa học sau: • Nghiên cứu và tổng kết các giải thuật hiện có cũng như các ưu điểm của mỗi thuật giải. • Đề xuất giải thuật mới tập trung chủ yếu vào việc khai thác luật kết hợp có trong dữ liệu, đồng thời dữ liệu cũng đạt được mô hình l-diversity có tiêu chí ẩn danh tốt hơn so với mô hình k- anonymity. • Phân tích những hướng phát triển tiếp theo để giải quyết bài toán đảm bảo chất lượng của dữ liệu sau khi thực hiện ẩn danh một cách tổng quát.
Ý nghĩa thực tiễn Số lượng người dùng internet và lượng dữ liệu được tạo ra đều tăng theo cấp số nhân do sự phát triển của internet. Người dùng tạo ra khối lượng dữ liệu khổng lồ mỗi ngày khi mạng xã hội, thương mại điện tử và các hoạt động trực tuyến khác trở nên phổ biến hơn. Bên cạnh đó, các tổ chức sử dụng dữ liệu này cho nhiều mục đích khác nhau như nghiên cứu, dự đoán hành vi,. Do đó, việc ẩn danh dữ liệu ngày càng trở nên cần thiết để bảo vệ tính bảo mật và quyền riêng tư cho thông tin cá nhân của mọi người, đồng thời dữ liệu vẫn phải lưu giữ được chất lượng để phục vụ mục đích khai thác của các bên thu thập.
4 HVTH: NGUYỄN PHÚC PHI HỔ GVHD: TS TRƯƠNG TUẤN ANH Đề tài mang những ý nghĩa thực tiễn sau: • Về phía người dùng: với mục tiêu ẩn danh dữ liệu, người dùng khi cung cấp các thông tin sẽ hạn chế khả năng bị nhận diện và khám phá các thông tin nhạy cảm của cá nhân. Các tổ chức áp dụng quy trình ẩn danh dữ liệu đảm bảo các tiêu chí về sự ẩn danh và riêng tư của người dùng đều được cân nhắc và xử lý. • Về phía người quản trị: các tổ chức thu thập dữ liệu thông thường sẽ không có những chuyên gia về lĩnh vực bảo mật tính riêng tư của dữ liệu, do đó giải thuật có thể giúp cho qui trình ẩn danh dữ liệu trở nên dễ dàng hơn, cũng như đảm bảo chất lượng dữ liệu được lưu giữ tốt nhất có thể. 5 HVTH: NGUYỄN PHÚC PHI HỔ GVHD: TS TRƯƠNG TUẤN ANH CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Quyền riêng tư và chất lượng dữ liệu Sự đánh đổi giữa quyền riêng tư và chất lượng của dữ liệu là sự cân bằng mà các nhà nghiên cứu và tổ chức phải cân nhắc khi quyết định cách xử lý dữ liệu nhạy cảm. Một mặt, quyền riêng tư dữ liệu rất quan trọng để bảo vệ thông tin cá nhân của các cá nhân và đảm bảo rằng dữ liệu không bị sử dụng sai mục đích hoặc lạm dụng. Mặt khác, chất lượng của dữ liệu rất quan trọng để cho phép nghiên cứu và phân tích có thể dẫn đến những hiểu biết và khám phá ý nghĩa. Mức độ bảo mật dữ liệu và chất lượng dữ liệu được yêu cầu sẽ tùy thuộc vào trường hợp sử dụng và bối cảnh cụ thể.
Ví dụ: trong một số trường hợp, quyền riêng tư dữ liệu nghiêm ngặt có thể cần thiết để tuân thủ các yêu cầu pháp lý hoặc đạo đức, trong khi trong các trường hợp khác, tiện ích dữ liệu có thể được ưu tiên để hỗ trợ các hoạt động kinh doanh hoặc nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên, thường có sự đánh đổi giữa quyền riêng tư của dữ liệu và chất lượng dữ liệu. Ví dụ: để bảo vệ quyền riêng tư của thông tin cá nhân, dữ liệu có thể cần được ẩn danh hoặc tổng hợp, điều này có thể dẫn đến mất thông tin chi tiết và giảm độ chính xác cũng như tính hữu ích của dữ liệu đối với một số loại phân tích.