Tổng quan về luận án
Nghiên cứu "Phát triển hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) trong các doanh nghiệp Việt Nam" của tác giả Hoàng Văn Tuyên, thuộc chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội), bảo vệ năm 2016 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quân và PGS. Mai Hà, là công trình tiên phong tiếp cận toàn diện hoạt động R&D doanh nghiệp dưới lăng kính quản trị học và lý thuyết hệ thống đổi mới (Innovation Systems). Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam chuyển đổi mạnh mẽ từ chiều rộng sang chiều sâu và hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh trở thành yêu cầu sống còn. Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu (research gap) lớn tồn tại khi các công trình trước đây chỉ phân tích đơn lẻ các yếu tố kỹ thuật hoặc đánh giá đổi mới công nghệ nói chung mà thiếu vắng một khung phân tích hệ sinh thái đồng bộ tích hợp cả yếu tố vi mô bên trong doanh nghiệp và yếu tố vĩ mô về cơ chế, chính sách quản lý nhà nước tại một quốc gia đang phát triển.
Để giải quyết khoảng trống này, nghiên cứu đặt ra câu hỏi nghiên cứu trung tâm: "Giải pháp nào để phát triển hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam?" cùng hệ thống câu hỏi nhánh về cơ sở lý luận, thực trạng hoạt động R&D, rào cản chính sách và mô hình chiến lược thích ứng. Tác giả xây dựng hai giả thuyết nghiên cứu then chốt: (H1) Hoạt động R&D của doanh nghiệp Việt Nam chịu sự chi phối đồng thời của hệ thống 15 yếu tố cấu thành (08 yếu tố nội sinh và 07 yếu tố ngoại sinh), trong đó năng lực hấp thu tri thức và rào cản chi phí giao dịch giữ vai trò quyết định; (H2) Sự kết hợp hữu cơ giữa tiếp thu công nghệ bên ngoài và phát triển R&D nội tại (in-house R&D), được trợ lực bởi các công cụ chính sách dựa trên thuế (tax-based incentives) và liên kết Hàn lâm – Công nghiệp, là con đường duy nhất giúp doanh nghiệp vượt qua bẫy gia công và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.
Khung lý thuyết của công trình được định hình trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Hệ thống Đổi mới (Edquist, 1997; Lundvall, 1992; Nelson, 1993), Lý thuyết Năng lực hấp thu (Cohen & Levinthal, 1989, 1990) và Lý thuyết Dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV). Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ khối doanh nghiệp đăng ký và hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn chuyển dịch chính sách từ cuối thập niên 1990 (thời điểm ban hành Nghị định 119/1999/NĐ-CP và Luật KH&CN năm 2000) đến năm 2015, kết hợp khảo sát thực chứng chuyên sâu trên mẫu doanh nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm (CNTP). Luận án mang lại giá trị đột phá khi lượng hóa thực trạng đầu tư R&D khiêm tốn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam: trích dẫn số liệu chính thức từ Tổng cục Thống kê cho thấy trong số 325.304 doanh nghiệp được điều tra năm 2011, chỉ có 1.090 doanh nghiệp có chi phí đầu tư cho KH&CN (chiếm tỷ lệ vỏn vẹn 0,33%), và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 97,7% tổng số doanh nghiệp cả nước (theo số liệu Bộ Tài chính tính đến 31/01/2015 trên 488.148 doanh nghiệp) nhưng gần như vắng bóng các hoạt động R&D bài bản.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu quốc tế và trong nước phản ánh ba luồng nghiên cứu học thuật chính:
Luồng thứ nhất nghiên cứu về chức năng của R&D và quyết định chiến lược "tự tạo hay mua ngoài" (make-or-buy decisions / internal vs. external sourcing). Kurokawa (1991) khi so sánh các doanh nghiệp KH&CN tại Nhật Bản và Hoa Kỳ đã chỉ ra lợi thế của việc thu nạp công nghệ bên ngoài nhằm rút ngắn thời gian và tối đa hóa lợi ích ngắn hạn, nhưng Dussauge, Hart & Ramanantsoa (1992) cùng Coombs (1996) khẳng định phụ thuộc vào công nghệ ngoại nhập sẽ làm xói mòn năng lực cạnh tranh cốt lõi dài hạn. Vấn đề chi phí giao dịch được Hemmert (2003) và Simatupang (2006) phân tích sâu: tạo nguồn công nghệ nội bộ (in-house R&D) giúp triệt tiêu rủi ro cơ hội và rò rỉ bí quyết công nghệ, đồng thời khắc phục hội chứng bài ngoại tri thức NIH (Not-Invented-Here syndrome). Roberts (2001), Daim & Kocaoglu (1998), Ford & Saren (1996) khi khảo sát hàng trăm doanh nghiệp tại Anh, Mỹ, Thụy Điển đều khẳng định R&D nội bộ luôn là nguồn công nghệ ưu tiên hàng đầu.
Luồng thứ hai tập trung vào vai trò của R&D trong việc kiến tạo năng lực hấp thu (absorptive capacity) và năng lực cốt lõi (core competence). Cohen & Levinthal (1989, 1990) định vị R&D có "hai bộ mặt" (two faces of R&D): không chỉ tạo ra phát minh mới mà còn nâng cao khả năng nhận diện, đồng hóa và khai thác tri thức từ môi trường bên ngoài. Granstrand và cộng sự (1992), Narula (2001), Chiesa & Manzini (1998) phân chia năng lực công nghệ thành 4 nhóm (năng lực đặc biệt/lõi, năng lực biên, năng lực nền, năng lực riêng) và chứng minh R&D nội bộ bắt buộc phải gắn liền với vùng năng lực lõi. Chesbrough (2006) mở rộng sang mô hình "Đổi mới mở" (Open Innovation), nhấn mạnh việc đan kết dòng tri thức bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Luồng thứ ba khám phá các nhân tố ảnh hưởng và tác động của can thiệp chính sách đến cường độ R&D. Kumar & Saqib (1996) khảo sát 291 doanh nghiệp chế tạo tại Ấn Độ, Del Canto & González (1999) nghiên cứu 100 doanh nghiệp Tây Ban Nha, Shefer & Frenkel (2005) khảo sát 209 doanh nghiệp Israel đều chỉ ra quy mô doanh nghiệp, nguồn vốn tự có, mức độ thâm dụng công nghệ và sự bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) có tương quan thuận chiều với chi tiêu R&D. Về chính sách, Bloom, Griffith & Van Reenen (2002), Czarnitzki & Hottenrott (2011), Aerts & Schmidt (2006) đặt ra cuộc tranh luận lớn giữa công cụ hỗ trợ tài chính trực tiếp (direct grants) và khuyến khích gián tiếp qua thuế (tax incentives).
Trong nước, các công trình của Vũ Cao Đàm (2003), Trần Ngọc Ca (1999), Nguyễn Võ Hưng (2005), Hoàng Trọng Cư (1999), Đỗ Thị Hồi (2003) chủ yếu tập trung vào chính sách đổi mới công nghệ diện rộng, cơ chế tài chính tín dụng hoặc khảo sát các tập đoàn nhà nước quy mô lớn. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Tuyên định vị chính xác điểm giao thoa còn thiếu: xây dựng khung đánh giá hệ thống hoạt động R&D tại một nền kinh tế chuyển đổi có khu vực ngoài nhà nước chiếm 48-49% GDP nhưng 98,6% là DNNVV, đối chiếu trực tiếp với hai nghiên cứu quốc tế điển hình là Kumar & Saqib (1996) tại Ấn Độ và Cho & Yu (2000) tại Hàn Quốc để làm rõ tính đặc thù của hệ thống đổi mới Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Công trình mang lại ba đóng góp lý thuyết nổi bật:
Thứ nhất, luận án mở rộng Lý thuyết Năng lực hấp thu (Cohen & Levinthal, 1990) trong điều kiện các quốc gia đang phát triển. Tại các nền kinh tế phát triển, R&D chủ yếu hướng đến đường biên công nghệ (frontier innovation), nhưng ở Việt Nam, tác giả chứng minh R&D đóng vai trò như một bộ lọc và cơ chế thích nghi hóa (adaptation) công nghệ nhập khẩu, giúp giải mã công nghệ chuyển giao dọc và chuyển giao ngang.
Thứ hai, phát triển "Mô hình đổi mới động" (mô hình đổi mới xoắn ốc - Dynamic/Spiral Innovation Model). Tác giả đã phê phán tính đơn tuyến của mô hình đổi mới tuyến tính cổ điển (Linear Model: Khoa học đẩy - Kéo từ thị trường) và bổ sung cho mô hình liên kết chuỗi (Chain-linked Model của Kline & Rosenberg) cũng như mô hình Đổi mới mở (Chesbrough, 2006). Mô hình đổi mới động thể hiện sự tương tác phi tuyến, xoắn ốc liên tục giữa hoạt động R&D nội bộ với mạng lưới nghiên cứu bên ngoài thông qua các vòng lặp phản hồi học hỏi (learning feedback loops), giúp tri thức công nghệ chuyển hóa liên tục qua 3 giai đoạn: Nghiên cứu cơ bản $\rightarrow$ Nghiên cứu ứng dụng $\rightarrow$ Triển khai thử nghiệm và phát triển công nghệ sau D.
Thứ ba, xây dựng Khung phân tích 15 nhân tố ảnh hưởng toàn diện đến hành vi R&D doanh nghiệp, bao gồm 08 nhân tố bên trong (Quy mô, Nguồn lực tài chính tự có, Nhân lực kỹ thuật, Hình thức sở hữu, Chiến lược SX-KD, Ngành nghề công nghệ, Vị trí địa lý, Tài sản vô hình/thương hiệu) và 07 nhân tố môi trường bên ngoài (Chính sách vốn/tài trợ, Chính sách ưu đãi thuế, Chính sách nhân lực KH&CN, Hệ thống bảo hộ SHTT, Cơ sở hạ tầng trang thiết bị thông tin, Môi trường liên kết Viện/Trường - Doanh nghiệp, và Thiết chế quản lý KH&CN).
HỆ THỐNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN R&D
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết: Hệ thống đổi mới lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Lý thuyết Chi phí giao dịch và Năng lực cốt lõi. Khung này tiếp cận R&D như một hệ thống hoàn chỉnh từ Đầu vào (Nhân lực, Tài chính, Cơ sở vật chất, Thông tin) $\rightarrow$ Quá trình thực hiện (Tổ chức đơn vị R&D tập trung, phi tập trung hoặc mạng lưới linh hoạt) $\rightarrow$ Đầu ra (Bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, sản phẩm mới, thị phần xuất khẩu và tăng năng suất TFP).
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ: áp dụng tối ưu cho nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, nơi các tổ chức trung gian thị trường KH&CN còn non trẻ và doanh nghiệp chịu áp lực chuyển đổi từ cạnh tranh chi phí thấp sang cạnh tranh dựa trên công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu đứng trên lập trường nhận thức luận thực chứng (positivism) kết hợp với chủ nghĩa hiện thực phản biện (critical realism) và phương pháp luận hệ thống (systems approach). Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed-methods design) tích hợp đa tầng:
QUY TRÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐA TẦNG
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp tuân thủ các chuẩn mực học thuật khắt khe:
- Điều tra khảo sát bằng bảng hỏi (questionnaire): Bảng hỏi thiết kế chuyên biệt cho doanh nghiệp Việt Nam, cấu trúc hóa thành các thang đo về nguồn lực R&D, hình thức tổ chức, rào cản tài chính, nhận thức chính sách và hiệu quả SX-KD. Chọn mẫu ngẫu nhiên thuần túy trong ngành CNTP.
- Phỏng vấn sâu (in-depth interview): Tác giả trực tiếp thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc với các đối tượng là lãnh đạo doanh nghiệp, giám đốc kỹ thuật, viện trưởng viện nghiên cứu chuyên ngành và các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
- Tam giác đạc phương pháp (triangulation): Đối chiếu chéo giữa dữ liệu thống kê quốc gia, dữ liệu khảo sát vi mô và ý kiến chuyên gia qua các cuộc tọa đàm chuyên đề nhằm triệt tiêu sai lệch chủ quan (common method bias).
Data và phân tích
Dữ liệu thứ cấp quy mô lớn được trích xuất từ cơ sở dữ liệu quốc gia: 488.148 doanh nghiệp đang hoạt động tính đến 31/01/2015 (Bộ Tài chính) và 325.304 doanh nghiệp trong Tổng điều tra kinh tế (Tổng cục Thống kê).
Dữ liệu sơ cấp từ ngành CNTP được phân tích định lượng trên phần mềm thống kê Stata, phân tích cấu trúc ý tưởng bằng Mindjet và quản lý cơ sở dữ liệu tài liệu qua EndNote. Các kiểm định thống kê được thực hiện để đánh giá tương quan giữa quy mô lao động, doanh thu với chi tiêu cho R&D; phân tích so sánh chi tiết giữa việc tự thực hiện R&D và hợp tác thực hiện R&D; đánh giá tác động của công cụ thuế trên 01 đồng đầu tư R&D.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Thứ nhất, "Nghịch lý R&D" tại các doanh nghiệp Việt Nam: Trích dẫn nguyên văn kết quả tổng hợp trong luận án, "Số liệu điều tra 325.304 doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê cho thấy năm 2011 chỉ có 1.090 doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN và đạt 5.418 tỷ đồng (chiếm 0,33% tổng số doanh nghiệp)". Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn không có hoạt động R&D chính thức.
Thứ hai, sự phân hóa sâu sắc theo quy mô và sở hữu: DNNVV chiếm 97,7% tổng số doanh nghiệp nhưng tỷ lệ doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% trong khối ngoài nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước có quy mô lao động bình quân lớn nhất (496 lao động/DN), tiếp đến là FDI (303 lao động/DN), trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ đạt bình quân 20 lao động/DN. Sự teo tóp của quy mô dẫn tới việc thiếu hụt nguồn lực trầm trọng cho R&D dài hạn.
Thứ ba, sự đứt gãy nghiêm trọng trong liên kết Hàn lâm – Công nghiệp: Luận án chỉ ra: "Doanh nghiệp Việt Nam hầu như không xây dựng chiến lược R&D, rất ít doanh nghiệp tự thực hiện hoạt động R&D cũng như hợp tác trong hoạt động R&D với các viện R&D, trường đại học, doanh nghiệp bên ngoài". Rào cản lớn nhất không chỉ là thiếu vốn mà là sự thiếu tin tưởng vào khả năng thương mại hóa của các đề tài nghiên cứu từ viện, trường và sự thiếu vắng các tổ chức trung gian môi giới công nghệ.
Thứ tư, điểm nghẽn thể chế của Quỹ Phát triển KH&CN doanh nghiệp: Mặc dù Luật KH&CN và các văn bản dưới luật cho phép doanh nghiệp trích lập tới 10% thu nhập tính thuế TNDN để lập Quỹ phát triển KH&CN, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp thực hiện trích lập vô cùng thấp do các quy định quản lý tài chính quá khắt khe, thủ tục thanh quyết toán phức tạp và rủi ro bị truy thu thuế khi hạch toán chi phí R&D.
Thứ năm, phát hiện phản trực giác về động cơ R&D: Doanh nghiệp không thực hiện R&D không phải vì không nhận thức được vai trò của công nghệ, mà do thị trường nội địa dễ tính, áp lực cạnh tranh chưa đủ lớn để buộc doanh nghiệp phải mạo hiểm đầu tư R&D vốn có chu kỳ hoàn vốn dài và rủi ro thất bại cao.
Implications đa chiều
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu tái định nghĩa vai trò của R&D trong các nền kinh tế đang phát triển: R&D là công cụ trung tâm để xây dựng năng lực công nghệ nội sinh và hấp thu tri thức toàn cầu, bác bỏ quan điểm cho rằng các nước đi sau chỉ cần nhập khẩu công nghệ mà không cần R&D.
Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất Khung xây dựng chiến lược R&D cho doanh nghiệp Việt Nam gồm 6 bước logic: (1) Phân tích môi trường kinh doanh và năng lực công nghệ hiện tại; (2) Xác định mục tiêu và định vị công nghệ lõi; (3) Lựa chọn phương thức thực hiện R&D (In-house, Hợp tác, Thuê ngoài); (4) Phân bổ nguồn lực (Nhân lực, Tài chính, Cơ sở vật chất); (5) Tổ chức triển khai và quản trị dự án R&D; (6) Đánh giá, thương mại hóa kết quả và bảo hộ SHTT.
Về mặt chính sách vĩ mô, nghiên cứu đề xuất gói 06 nhóm giải pháp chính sách toàn diện:
- Đa dạng hóa nguồn đầu tư tài chính: Chuyển dịch căn bản từ cơ chế cấp phát tài trợ trực tiếp sang khuyến khích dựa trên công cụ thuế (tax-based incentives), cho phép giảm trừ thuế phụ trội (super-deductions) cho chi phí R&D.
- Phát triển nguồn nhân lực R&D: Xây dựng cơ chế luân chuyển cán bộ nghiên cứu linh hoạt giữa Viện/Trường và Doanh nghiệp; ưu đãi thuế TNCN cho chuyên gia R&D.
- Hoàn thiện phương tiện hỗ trợ R&D: Đầu tư phòng thí nghiệm dùng chung (shared laboratories), trung tâm kiểm định và hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin KH&CN mở.
- Thúc đẩy liên kết Hàn lâm – Công nghiệp: Áp dụng cơ chế tài trợ đối ứng (matching grants) cho các dự án hợp tác R&D giữa doanh nghiệp và trường đại học.
- Đổi mới quản lý nhà nước về KH&CN: Đơn giản hóa thủ tục trích lập và giải ngân Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp, xóa bỏ cơ chế xin - cho.
- Kiến tạo môi trường thể chế và văn hóa đổi mới: Bảo hộ nghiêm minh quyền SHTT, phát triển thị trường công nghệ và tôn vinh doanh nhân mạo hiểm đổi mới.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu có một số giới hạn nhất định:
- Giới hạn không gian thực nghiệm: Mẫu điều tra sơ cấp tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp thực phẩm (CNTP), do đó khả năng suy rộng trực tiếp sang các ngành công nghệ cao như công nghệ thông tin, điện tử hay dược phẩm sinh học cần có những điều chỉnh phù hợp.
- Giới hạn dữ liệu cắt ngang: Nghiên cứu sử dụng số liệu điều tra tại một thời điểm, chưa xây dựng được bộ dữ liệu mảng (panel data) kéo dài nhiều năm để chạy các mô hình kinh tế lượng phân tích độ co giãn (elasticity) dài hạn của chi tiêu R&D đối với năng suất TFP.
- Rào cản định lượng chi phí R&D ngầm: Do hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ này chưa tách bạch rõ ràng danh mục chi phí R&D với chi phí quản lý và vận hành chung, số liệu tự báo cáo có thể thấp hơn thực tế hoạt động cải tiến kỹ thuật tại cơ sở.
Chương trình nghiên cứu tương lai cần tập trung vào:
- Mở rộng khảo sát so sánh liên ngành (Cross-sectoral comparative studies) giữa ngành chế biến truyền thống và ngành thâm dụng công nghệ cao.
- Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng vi mô nâng cao (như Heckman selection model, Structural Equation Modeling - SEM) để lượng hóa chính xác tác động của ưu đãi thuế đến cường độ R&D.
- Khảo sát mô hình Đổi mới mở và mạng lưới R&D số hóa trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án của TS. Hoàng Văn Tuyên đã tạo ra những tác động học thuật và thực tiễn sâu rộng:
- Tác động học thuật: Công trình trở thành tài liệu tham khảo nền tảng trong đào tạo sau đại học chuyên ngành Quản lý KH&CN, Quản trị công nghệ và Quản trị kinh doanh tại Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở nghiên cứu trên cả nước; mở ra hệ thống chỉ báo đánh giá R&D cấp doanh nghiệp.
- Tác động chính sách: Các luận cứ thực chứng và đề xuất về chính sách thuế, thủ tục Quỹ phát triển KH&CN đã trực tiếp đóng góp vào quá trình sửa đổi, bổ sung các Thông tư liên tịch hướng dẫn trích lập Quỹ KH&CN doanh nghiệp (như Thông tư liên tịch 12/2016/TTLT-BKHCN-BTC) và các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp: Cung cấp cẩm nang chiến lược giúp các Tổng công ty, Tập đoàn và DNNVV tái cấu trúc bộ phận R&D, thiết lập phòng thí nghiệm nội bộ và tăng cường liên kết thương mại hóa với các viện nghiên cứu chuyên ngành.
- Ý nghĩa quốc tế: Đóng góp một nghiên cứu tình huống điển hình (case study) chuẩn mực về hành vi R&D của doanh nghiệp tại nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Nam Á vào kho tàng tài liệu của các tổ chức quốc tế như UNCTAD, World Bank và OECD.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận khung lý thuyết tích hợp chuẩn mực, hệ thống tài liệu tổng quan phong phú và phương pháp luận hỗn hợp mẫu mực trong quản lý KH&CN.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu cao cấp: Khai thác khung 15 nhân tố ảnh hưởng và mô hình đổi mới động để mở rộng các nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu.
- Giám đốc R&D, CEO và đội ngũ quản lý doanh nghiệp: Sử dụng khung 6 bước xây dựng chiến lược R&D để hoạch định lộ trình công nghệ, cân đối giữa in-house R&D và thu nạp công nghệ bên ngoài.
- Các nhà hoạch định chính sách (Bộ KH&CN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính): Cơ sở thực chứng để thiết kế các chính sách đòn bẩy thuế, cải cách thể chế quỹ KH&CN và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc xây dựng "Mô hình đổi mới động" (mô hình xoắn ốc) và mở rộng Lý thuyết Năng lực hấp thu (Cohen & Levinthal) cho bối cảnh các nước đang phát triển. Luận án chứng minh R&D không chỉ là hoạt động sáng tạo phát minh ban đầu mà là năng lực nền tảng để hấp thu, làm chủ và nâng cấp công nghệ chuyển giao, giúp doanh nghiệp vượt qua hội chứng NIH.
2. Điểm cải tiến phương pháp luận của luận án so với các nghiên cứu trước? So với các nghiên cứu đơn lẻ như Kumar & Saqib (1996) chỉ dùng hồi quy định lượng hay Del Canto & González (1999) chỉ khảo sát mẫu hẹp, luận án đã thực hiện phương pháp tam giác đạc (triangulation) hoàn chỉnh: tích hợp dữ liệu vĩ mô toàn quốc (325.304 DN) với khảo sát ngẫu nhiên ngành thực phẩm và phỏng vấn sâu lãnh đạo/nhà quản lý chính sách, bảo đảm độ vững và tính khách quan cao.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực chứng là gì? Đó là nghịch lý về Quỹ Phát triển KH&CN: Dù chính sách cho phép trích tới 10% thu nhập trước thuế cho R&D, đại đa số doanh nghiệp không trích lập hoặc không dám chi tiêu quỹ vì thủ tục hành chính quá phức tạp và tâm lý e ngại rủi ro thanh tra, quyết toán thuế.
4. Nghiên cứu có cung cấp quy trình nhân rộng (replication protocol) không? Có. Toàn bộ cấu trúc bảng hỏi điều tra, quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên ngành CNTP, phương pháp phỏng vấn sâu và hệ thống mã hóa biến số 15 nhân tố đều được chuẩn hóa chi tiết trong phụ lục luận án, cho phép các nhà nghiên cứu dễ dàng lặp lại quy trình trên các ngành kinh tế khác.
5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào? Lộ trình hướng tới: (i) Xây dựng cơ sở dữ liệu mảng theo dõi dài hạn R&D doanh nghiệp Việt Nam; (ii) Đo lường tác động của chính sách siêu khấu trừ thuế R&D; (iii) Nghiên cứu mô hình đổi mới mở và liên minh R&D liên ngành trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển hoạt động R&D doanh nghiệp, định vị R&D là hạt nhân của năng lực công nghệ nội sinh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển thành công Mô hình đổi mới động (mô hình xoắn ốc), kết nối biện chứng giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
- Xác lập Khung phân tích toàn diện 15 nhân tố chi phối hoạt động R&D doanh nghiệp (08 nhân tố nội sinh và 07 nhân tố ngoại sinh từ môi trường chính sách).
- Phân tích thực chứng sắc bén thực trạng R&D tại Việt Nam, chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng khi chỉ có 0,33% doanh nghiệp đầu tư cho KH&CN (năm 2011) và sự đứt gãy trong liên kết Viện/Trường – Doanh nghiệp.
- Đề xuất Khung 6 bước xây dựng chiến lược R&D thực tiễn cho doanh nghiệp và Gói 6 nhóm giải pháp chính sách vĩ mô đột phá, trọng tâm là chuyển dịch sang khuyến khích dựa trên công cụ thuế (tax-based incentives) và khơi thông Quỹ phát triển KH&CN.
- Mở ra 3 hướng nghiên cứu học thuật mới về kinh tế học đổi mới sáng tạo, năng lực hấp thu công nghệ và chính sách KH&CN tại các nền kinh tế đang phát triển.