CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan những nghiên cứu về năng lực tư duy và lập luận toán học Trên thế giới, việc phát triển NL tư duy và lập luận toán học cho HS cũng rất được chú trọng. Điều đó được thể hiện ở một số công trình nghiên cứu sau: Theo tác giả Tadesse Walelign (2014): “Năng lực toán học phổ thông là khả năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống, vận dụng và phát triển tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai một cách linh hoạt là khả năng phân tích, suy luận, lập luận, khái quát hóa, trao đổi thông tin hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau, trong đó chú trọng, quy trình, kiến thức và hoạt động”. Từ đây, nhận thấy năng lực toán học có vai trò rất lớn trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trong đó, năng lực tư duy và lập luận toán học đặc biệt được chú trọng [29]. Bên cạnh đó, tác giả Niss cho rằng năng lực Toán học gồm tám thành tố là: NL tư duy toán học, NL giải quyết vấn đề toán học, NL mô hình hóa toán học, NL suy luận toán học, NL biểu diễn, NL sử dung ngô ngữ và kí hiệu hình thức, NL giao tiếp toán học, NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Niss cũng đã mô tả tám NL luôn có mối liên hê chặt chẽ với nhau [28]. Ở Việt Nam, chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 đã xác định năng lực Toán học bao gồm 5 năng lực cốt lõi: NL tư duy và lập luận toán học, NL mô hình hóa toán học, NL giải quyết vấn đề toán học, NL giao tiếp toán toán học, NL sử dụng công cụ và phương tiện học toán.
Trong đó, với NL tư duy và lập luận toán học, một trong những biểu hiện quan trọng nhất là “thực hiện tương đối thành thạo các thao tác tư duy, đặc biệt là phát hiện được sự tương đồng và khác biệt trong những tình huống tương đối phức 7 tạp và lí giải được sư quan sát” [3]. Trong các nghiên cứu trên, chúng tôi thấy lập luận là một thành phần và là một phương thức đặc thù của tư duy toán học, chú trọng đến khả năng suy luận và chứng minh (hoặc phản bác) của HS. Với mỗi HS, tùy vào những sắc thái khác nhau thì sẽ có khả năng hoạt động suy luận khác nhau. Và thông qua quá trình học tập, rèn luyện – nhất là qua môn Toán, GV có thể phát triển năng lực tư duy cho học sinh – trong đó có năng lực tư duy và lập luận Toán học.
Tuy nhiên trong các tài liệu nghiên cứu về bất đẳng thức trong sách giáo khoa, sách tham khảo ở THPT, các tác giả mới chú trọng vào sử dụng kĩ thuật chứng minh BĐT, trình bày các phương pháp chứng minh nhưng chưa tập trung vào rèn luyện cho HS phần suy luận và lập luận toán học, sửa chữa snhững lỗi sai trong quá trình chứng minh một BĐT cho HS. Bên cạnh đó, ở các trường THPT hiện nay, việc DH môn Toán theo hướng phát triển năng lực tư duy cho HS vẫn còn nhiều hạn chế vì những lí do như gặp khó khăn về thời lượng dạy học ít nhưng nội dung bài học thì nhiều, khả năng nhận thức HS trong một lớp không đồng đều, còn nhiều đối tượng là HS yếu về môn toán. Vì vậy, việc phát triển NL tư duy và lập luận toán học cho HS ở trường THPT thông qua việc dạy học BĐT vẫn còn nhiều bất cập và cần được chú trọng nhiều hơn. Mặt khác, trong chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thời lượng dành cho BĐT càng ít nên việc dạy về chủ đề BĐT khó khăn hơn vì vậy GV cần có kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng và phát triển NL tư duy và lập luận toán học cho HS trong quá trình dạy học.
Một số vấn đề cơ bản về năng lực tư duy và lập luận toán học 1. Năng lực toán học Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 mà Bộ giáo dục và đào tạo ban hành: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như 8 hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Đây là một quan điểm chung về NL mà hiện nay được nhiều người thừa nhận [3]. Năng lực toán học là một loại hình năng lực chuyên môn, gắn liền với môn học.
Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực toán hoc và chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa các quan điểm của các nhà khoa học. Quan niệm về năng lực toán học của HS phổ thông theo nghiên cứu của tác V. Krutexki cho rằng: “Năng lực học tập toán học là đặc điểm tâm lí cá nhân (trước hết là đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng nhu cầu hoạt động học toán và giúp cho việc nắm giáo trình toán một cách sáng tạo, giúp cho việc nắm một cách tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo toán học”. Đây là tiền đề cho định hướng phát hiện và bồi dưỡng HS giỏi toán của các tác giả Phạm Văn Hoàn và Hoàng Chúng.
Quan điểm này đã được cụ thể hóa phần nào trong các nghiên cứu về các năng lực toán học của tác giả Trần Luận và Trần Đình Châu [5], [6], [13, tr. Quan niệm thuộc khuôn khổ chương trình đánh giá HS quốc tế PISA (2003) về năng lực toán học: “Năng lực toán học là khả năng của một cá nhân có thể nhận biết và hiểu vai trò của toán học trong đời sống, phán đoán và lập luận dựa trên cơ sở vững chắc, sử dụng và hình thành niềm đam mê tìm tòi, khám phá toán học để đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của cá nhân đó với vai trò là một công dân có ý thức, có tính xây dựng, và có hiểu biết” [10]. Để thích nghi hơn với xu thế phát triển kinh tế xã hội hiện nay, quan niệm về mục tiêu giáo dục toán học đã có sự thay đổi. Do đó, quan niệm năng lực toán học cũng đã có những đổi mới, phát triển đáng kể.
PISA 2015 quan niệm: “Năng lực toán học phổ thông (Mathematical Literacy) là khả năng của cá nhân biết lập công thức (formulate), vận dụng (employ) và giải thích (explain) toán học trong nhiều ngữ cảnh. Nó bao gồm suy luận toán học và sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự kiện và công cụ toán học để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng. Nó giúp con người nhận ra vai trò của toán 9 học trên thế giới và đưa ra phán đoán, quyết định của công dân biết góp ý, tham gia và suy ngẫm” [2]. Qua những nghiên cứu trên, cho thấy hai quan niệm thuộc khuôn khổ chương trình đánh giá HS quốc tế PISA thể hiện sự quan tâm rõ nét hơn về các kiến thức toán học và sự vận dụng nó trong đời sống.
Còn quan điểm của tác giả V. Kruchetxki đối với năng lực toán học lại quan tâm nhiều hơn đến thuộc tính tâm lí của năng lực toán học và việc vận dụng toán học vào thực tiễn không được đề cập tới. Về cấu trúc của năng lực Toán học, đã có nhiều công trình nghiên cứu tâm lí được thực hiện khá công phu nhằm vạch ra cấu trúc các năng lực toán học của HS, sau đây là một số công trình tiêu biểu: Theo tác giả V. Kruchetxki, sơ đồ khái quát của cấu trúc năng lực toán học ở lứa tuổi học sinh là như sau: 1) Về mặt thu thập những thông tin toán học: Năng lực tri giác hình thức hóa tài liệu toán học, năng lực nắm được những cấu trúc hình thức của bài toán; 2) Về mặt chế biến thông tin toán học: a) Năng lực tư duy logic trong lĩnh vực các quan hệ số lượng và các quan hệ không gian, các kí hiệu dấu và kí hiệu số; năng lực suy nghĩ với các kí hiệu toán học; b) Năng lực khái quát nhanh chóng và rộng rãi các đối tượng, quan hệ, các phép toán của Toán học; c) Năng lực rút ngắn quá trình suy luận toán học và hệ thống các phép toán tương ứng; năng lực suy nghĩ với những cấu trúc được rút gọn; d) Tính mềm dẻo của các quá trình tư duy trong hoạt động toán học; e) Khuynh hướng vươn tới sự rõ ràng, sự đơn giản, tính tiết kiệm và tính hợp lí của lời giải; f) Năng lực thay đổi nhanh chóng và dễ dàng hướng suy nghĩ, dạng tư duy thuận chuyển qua tư duy ngược.
10 3) Về mặt lưu trữ thông tin Toán học: Trí nhớ toán học (tức là trí nhớ khái quát về các quan hệ toán học, về các đặc điểm điển hình, về các sơ đồ suy luận và chứng minh). 4) Về các thành phần tổng hợp khái quát: Khuynh hướng toán học của trí tuệ [13, tr. Theo quan niệm của chương trình đánh giá HS quốc tế Pisa, NL Toán học gồm những thành tố sau: NL tư duy và suy luận; NL lập luận; NL mô hình hóa; NL đặt và giải quyết vấn đề; NL giao tiếp; NL biểu diễn; NL sử dụng ngôn ngữ, kí hiệu hình thức; NL sử dụng các phương tiện hỗ trợ và công cụ [10]. Ở Việt Nam, trong nghiên cứu của mình tác giả Trần Kiều đã đưa ra kết luận như sau: “Các NL cần hình thành và phát triển cho người học qua dạy học môn Toán trong trường phổ thông Việt Nam là: NL tư duy; NL giải quyết vấn đề; NL mô hình hóa toán học; NL giao tiếp; NL sử dụng các công cụ, phương tiện học toán; NL học tập độc lập và hợp tác” [14].
Dựa vào những kết quả nghiên cứu ở cả Việt Nam và trên thế giới, chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định NL toán học đối với học sinh bao gồm năm NL cốt lõi: NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Tùy vào từng đối tượng học sinh, và yêu cầu cần đạt của từng cấp học, các thành tố của NL toán học được biểu hiện ở các mức độ khác nhau [3]. Năng lực tư duy và lập luận toán học 1.