CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY TRONG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6 1. Khái niệm tư duy và sự phát triển năng lực tư duy 1. Khái niệm, đặc điểm của tư duy a. Khái niệm tư duy Theo PGS.
Đinh Thị Kim Thoa: Tư duy là một quá trình tâm lí (nhận thức) phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của các sự vật hiện tượng mà trước đó con người ta chưa biết [13, tr. Trong quá trình nhận thức, tư duy thuộc quá trình nhận thức lý tính (nhận thức lý tính gồm tư duy và tưởng tượng). Để hoạt động tư duy diễn ra hiệu quả, thuận lợi thì giai đoạn nhận thức trước đó – nhận thức cảm tính (gồm cảm giác và tri giác) phải diễn ra thuận lợi. Hay nói khác đi là hoạt động tư duy luôn phải đặt trong quá trình hoạt động nhận thức của con người: từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
Các giai đoạn của quá trình gồm cảm giác, tri giác và tư duy, tưởng tượng luôn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, chi phối cho nhau, điều này đã được Lê-nin đúc kết trong nhận đinh: “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Đặc điểm của tư duy (1) Tư duy của con người luôn được cụ thể hóa qua các thao tác : phân tích, so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…Khi chú trọng đến việc phát triển tư duy cho HS, ngoài việc cần phát triển cho HS các tháo tác tư duy vừa nêu người dạy còn cẩn phát triển cho HS của mình các phẩm chất tư duy: tính độc lập, tính mềm dẻo, tính sáng tạo, tính quyết đoán, tính tích cực, năng động,…để người học có được một hệ thống các kĩ năng, kĩ xảo và năng lực hoạt động. 5 z (2) Tư duy thường xuất hiện trong hoàn cảnh có vấn đề - tức là hoàn cảnh chứa đựng những yếu tố mới mà con người ta chưa biết hoặc mâu thuẫn với cái đã biết mà con người ta chưa giải quyết được. Với HS, không phải HS nào cũng nhận thức được mâu thuẫn này để vượt qua nó để chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, hình thành năng lực.
Hoàn cảnh có vấn đề diễn ra đối với mỗi HS luôn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, vào vùng phát triển gần nhất của HS đó. Khẳng đinh đặc điểm này của tư duy, John Dewey (một nhà giáo dục người Mỹ) đã nhấn mạnh; “Tổ chức trí tuệ nảy sinh và phát triển trong một thời gian nhất định khi những hành vi cần thiết để đạt một mục đích nhất định được tổ chức” [19, tr. (3) Tư duy gắn chặt với ngôn ngữ: Tư duy và ngôn ngữ diễn ra đồng thời trong quá trình nhận thức lý tính. Chúng thống nhất với nhau và có quan hệ biện chứng với nhau.
Ngôn ngữ là phương tiện không thể thiếu của quá trình tư duy, ngôn ngữ tham gia vào mọi khâu của quá trình tư duy. Giai đoạn đầu ngôn ngữ tạo ra hoàn cảnh có vấn đề; giai đoạn diễn biến, ngôn ngữ tạo ra các ý nghĩ và dòng tư tưởng được biểu đạt dưới hình thức ngôn ngữ; giai đoạn kết thúc, tư duy tạo ra các khái niệm, tư tưởng và được biểu đạt nhờ ngôn ngữ. Ngôn ngữ của con người càng phong phú bao nhiêu thì sự biểu đạt của tư duy càng rõ ràng, mạch lạc (tức là chất lượng biểu đạt càng cao) bấy nhiêu. Còn tư duy của con người lại làm cho ngôn ngữ trở nên phong phú và sâu sắc thêm.
(4) Tư duy phản ánh khái quát: tức là phản ánh những thuộc tính chung, bản chất phổ biến của hàng loạt các sự vật hiện tượng cùng loại. Bên cạnh đó, tư duy còn phản ánh cả cái riêng, cái cụ thể - những trường hợp riêng lẻ của cái khái quát. (5) Tư duy phản ảnh gián tiếp – tức là phản ánh một sự vật hiện tượng nào đó trong thế giới khách quan luôn phải thông qua dấu hiệu hoặc công cụ trung gian khác. Do đó, kinh nghiệm của con người rất quan trọng.
Nó giúp con người sử dụng kinh nghiệm cũ để nhận thức cái mới. 6 z (6) Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính. Tư duy và nhận thức cảm tính là hai giai đoạn – hai mức độ khác nhau trong hoạt động nhận thức của con người nhưng chúng luôn có quan hệ qua lại với nhau. Nhận thức cảm tính tạo ra nguyên liệu, làm cơ sở cho quá trình tư duy, tạo ra hoàn cảnh có vấn đề cho tư duy.
Nhận thức cảm tính tham gia vào tất cả các khâu, các giai đoạn của quá trình tư duy. Ngược lai, tư duy có tác động trở lại đối với nhận thức cảm tính: làm cho hoạt động nhận thức cảm tính phong phú hơn, mang một chất lượng mới - tăng tính nhạy cảm của cảm giác, tính ý nghĩa, tính lựa chọn, tính ổn định của tri giác. (7) Tư duy liên hệ hữu cơ với hoạt động thực tiễn. Tư duy luôn chỉ đạo, định hướng cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả.
Còn thực tiễn lại kiểm nghiệm tính chính xác của hoạt động tư duy. Khái niệm năng lực tư duy và sự phát triển năng lực tư duy a. Thế nào là năng lực? Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [6, tr. 114]; (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [6, tr.
Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học. Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”[ 7 z http://www.
Với cách hiểu này thì cả ba yếu tố có kiến thức, kĩ năng và thái độ phải được người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực. Đinh Thị Kim Thoa [12, tr. 27] có nêu : Năng lực là đặc điểm thuộc tính tâm lý riêng của từng người, là tổ hợp thuộc tính phản ánh các quan hệ tác động và khách thể bởi chủ thể. Năng lực khác với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo.
Năng lực là đặc điểm tâm lí ở người, tạo thành các điều kiện quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc lính hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm “năng lực” chính là khả năng nhận thức và vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Người có năng lực thấp thì khả năng vận dụng, khả năng nhận thức có tốc độ, chiều sâu, cường độ thấp; ngược lại, người có năng lực cao thì khả năng vận dụng, khả năng nhận thức có tốc độ, chiều sâu, cường độ cao. Từ đây, chúng ta có thể nhận định năng lực của HS phổ thông chính là khả năng nhận thức và khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện nhanh chóng, chính xác, hiệu quả các nhiệm vụ học tập, những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em. Thế nào là năng lực tư duy? Dựa vào khái niệm năng lực đã phân tích ở trên và các đặc điểm của tư duy chúng ta có thể hiểu thuật ngữ năng lực tư duy như sau: Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện,trừu tượng hóa, khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận, giải quyết vấn đề, xử lý và tình cảm trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn.
Năng lực tư duy là một khả năng, một phẩm chất tâm lí của con người, vừa ảnh hưởng của gen di truyền bẩm sinh, vừa là sản phẩm của lịch sử, của sự phát triển xã hội. Nó thông qua rèn luyện thực tiễn mới trở nên thật sự có hiệu quả của con người và xã hội Năng lực tư duy của con người ngày càng được nâng cao theo sự phát triển của con người và lịch sử xã hội. Nhưng đó không phải là một quá trình tự 8 z phát mà là một quá trình tự giác – quá trình do con người tự rèn luyện, nâng cao năng lực cho mình. Năng lực tư duy xét về mặt tinh thần, trí tuệ, bản chất xã hội phải được đổi mới rèn luyện, bổ sung không ngừng.
Tuy nhiên tùy từng bộ phận cấu thành của nó mà có sự rèn luyện, đổi mới khác nhau ít hoặc nhiều trên cơ sở các quy luật của tư duy và quy luận tồn tại của nó. Mác đã từng nói, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Với tư cách là một phương pháp nhận thức, tri thức là cơ sở, là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo ra và rèn luyện năng lực tư duy Năng lực tư duy không chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là năng lực tư duy biện chứng.