CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.1 Kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại 1.1 Trang trại Thời gian qua lý luận về trang trại đã được các nhà nghiên cứu trao đổi trên các diễn đàn và phương tiện đại chúng. Vì vậy, ứng với từng quốc gia, từng vùng, từng nhà nghiên cứu lại đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc - FAO (1997): “Trang trại là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ”. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2005): “Trang trại là loại hình ruộng đất được canh tác và khai phá bằng cách sử dụng công nhân nông nghiệp ở Tây Âu khoảng từ thế kỉ 16” [26, tr.
Theo nghị quyết số 06/NQ-TW ngày 10/11/1998: “Trang trại thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hóa với quy mô lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất và kinh doanh có hiệu quả. Một bộ phận trang trại ngoài lao động của gia đình, có thuê thêm lao động để sản xuất, kinh doanh; quy mô diện tích đất canh tác xoay quanh mức hạn điền ở từng vùng theo quy định của pháp luật” [9, tr.2 Kinh tế trang trại Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Kinh tế trang trại là một trong những loại hình kinh tế và tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp mang tính tập trung với quy mô nhất định dựa trên cơ sở của các nguồn lực của chủ trang trại là chủ yếu, thực hiện cách thức tổ chức sản xuất và quản lí tiến bộ theo hướng chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kĩ thuật với mục đích chủ yếu là sản xuất nông sản phẩm hàng hoá, có năng suất và hiệu quả cao”[27, tr. Dưới góc độ quản lý kinh tế, khái niệm về kinh tế trang trại trong nghị quyết 03- 2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 được coi là khái niệm chung nhất ở nước ta hiện - 10 - nay: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng gắn sản xuất với chế biến nông lâm thủy sản”[10, tr.3 Phát triển kinh tế trang trại “Phát triển là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Vì vậy, đề cập đến phát triển kinh tế trang trại tức là đề cập đến phát triển một hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp cũng cần dựa theo nguyên tắc trên.
Điều này đồng nghĩa rằng phát triển kinh tế trang trại phải là một quá trình thể hiện được sự gia tăng cả về mặt lượng lẫn mặt chất. Phát triển phải thể hiện được theo chiều rộng lẫn chiều sâu. Phát triển theo chiều rộng thể hiện ở sự tăng lên về mặt số lượng trang trại. Phát triển theo chiều sâu thể hiện thông qua quy mô vốn đầu tư, trình độ lao động, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất… Phát triển phải gắn với công nghiệp chế biến, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các cấp, các ngành, các doanh nghiệp với chủ trang trại nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất, đem lại thu nhập ngày càng cao cho người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội và không làm phá vỡ môi trường sinh thái.
Đây cũng là quá trình đẩy mạnh việc tổ chức lại sản xuất, phân công lại lao động chủ yếu đối với những hộ nông dân từ sản xuất tự cấp tự túc, nhỏ lẻ phân tán, hiệu quả thấp sang hình thức sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng CNH-HĐH; Tăng cường giải phóng sức sản xuất ở khu vực nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Tóm lại, phát triển kinh tế trang trại là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá trị và sản lượng hàng hoá nông sản của các trang trại cho nền kinh tế. Đồng thời phát huy vai trò tiên phong của nó trong việc thúc đẩy tăng trưởng, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và đảm bảo an toàn đối với môi trường sinh thái.2 Các đặc trưng của kinh tế trang trại Thứ nhất, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệp được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ Có nền tảng kinh tế hộ và mang bản chất kinh tế hộ thể hiện trên 3 khía cạnh: Người quản lý chính là chủ hộ hoặc là một thành viên có đủ năng lực và được sự tín nhiệm của chủ hộ; trang trại có thể sử dụng lao động làm thuê nhưng lao động của gia đình vẫn là yếu tố trụ cột; Có thể tích tụ tập trung thêm các yếu tố sản xuất để nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất. Thứ hai, kinh tế trang trại mang tính chất sản xuất hàng hóa Điều này được thể hiện qua tỷ suất hàng hóa – Đây là đặc trưng cơ bản khác với kinh tế hộ là sản xuất tự túc theo nhu cầu của gia đình nông dân.
Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Người chủ trang trại sản xuất và mong muốn bán được tất cả. Còn tiểu nông thì sản xuất và tiêu thụ phần sản phẩm làm ra. Kinh tế trang trại tuy là cơ sở sản xuất cá thể nhưng không đối lập với kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác.
Ngược lại, nó đòi hỏi phải tham gia vào quá trình hợp tác sản xuất dưới những hình thức khác nhau, thực hiện liên kết liên doanh giữa các tổ chức kinh tế của tập thể và của nhà nước nhằm tăng năng lực sản xuất. Điều này nói lên tính chất mềm dẻo của kinh tế trang trại, nó có khả năng dung nạp các hình thức sở hữu khác nhau, các quy mô sản xuất khác nhau, các trình độ kỹ thuật khác nhau. Thứ ba, các yếu tố sản xuất đặc biệt là đất đai, vốn phải được tập trung tới một quy mô đủ lớn tùy theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa Tích tụ và tập trung sản xuất là quy luật của quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, từ hàng hóa giản đơn lên sản xuất hàng hóa trình độ cao. Thực tế cho thấy chỉ khi nào các yếu tố sản xuất được tập trung tới một quy mô nhất định thì mới có điều kiện để phát triển phân công lao động cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Đối với kinh tế trang trại, các yếu tố này có sự tập trung tích tụ cao hơn so với mức bình quân của kinh tế hộ ở từng vùng. Từ đó, đạt khối lượng và tỷ lệ hàng hóa lớn hơn, thu lợi nhiều hơn so với mức trung bình của kinh tế hộ. Tuy nhiên, quy mô - 12 - của các yếu tố này cũng mang tính chất tương đối tùy thuộc vào từng loại hình, không cố định theo thời gian và tùy thuộc vào từng vùng sản xuất. Thông thường những trang trại trồng trọt có quy mô lớn nhưng ngược lại các trang trại chăn nuôi thì chỉ cần diện tích nhỏ nhưng lại cần vốn đầu tư lớn.
Hơn nữa, do tính chất sản xuất hàng hóa chi phối, hoạt động của kinh tế trang trại cũng được thực hiện theo xu thế tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao, tiến đến quy mô sản xuất tối ưu của trang trại, phù hợp với từng ngành sản xuất, từng vùng kinh tế, từng thời kỳ. Thứ tư, chủ trang trại thông thường là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, kinh nghiệm sản xuất và có kiến thức nhất định về kinh doanh Chủ trang trại có thể là chủ hộ hoặc là một người có năng lực được sự tín nhiệm của chủ hộ. Thành phần tham gia rất đa dạng: có thể là cán bộ hưu trí, bộ đội xuất ngũ, công nhân viên chức… Đây là bộ phận có ý chí làm giàu, có điều kiện làm giàu, biết làm giàu; Có vốn, trình độ kỹ thuật, khả năng quản lý, có hiểu biết nhất định về thị trường và bản thân là người thường xuyên tham gia vào lao động, quản lý trang trại. Những nhân tố này có thể khi sinh ra đã có, cũng có thể được hình thành từ quá trình tạo lập trang trại và dần dần được tích lũy thêm trong quá trình sản xuất, học hỏi từ xung quanh như từ các chủ trang trại khác, tham gia các lớp tập huấn… Tuy nhiên, dù được hình thành từ khi nào và bằng cách nào cũng cho thấy suy nghĩ làm thế nào để trang trại có thể tổn tại trong thị trường đầy cạnh tranh đã có tác dụng tôi luyện chủ trang trại thành những người có ý chí vươn lên, nắm vững kiến thức, nâng cao năng lực quản lý, nắm bắt thị trường nhanh nhạy.
Thứ năm, cơ cấu lao động ở trang trại chủ yếu là sức lao động gia đình cộng thêm bộ phận lao động làm thuê Thông thường, chủ hộ là chủ trang trại và sử dụng sức lao động gia đình là chính. Tuy nhiên, vào thời điểm cần thiết như gieo trồng hoặc thu hoạch có thuê thêm lao động. Số lao động thuê mướn phụ thuộc vào quy mô sản xuất và đặc điểm loại hình trang trại. Lao động thuê ngoài có hai hình thức là thuê thời vụ và thuê thường xuyên.
Các trang trại có quy mô lớn thuê cả lao động thời vụ và lao động thường - 13 - xuyên. Ngược lại, trang trại có quy mô nhỏ thuê lao động thời vụ là chủ yếu vì lao động gia đình gần như đảm bảo đủ.3 Các hình thức cơ bản của trang trại Xét theo hình thức tổ chức quản lý: [39, tr.279] Trang trại gia đình: là trang trại độc lập sản xuất kinh doanh do chủ hộ hay một người thay mặt đứng ra quản lý. Thông thường mỗi trang trại là của một gia đình nhưng ở những nơi quan hệ huyết thống còn đậm nét đôi khi có nhiều gia đình cùng tham gia quản lý kinh doanh một cơ sở. Đây là loại hình trang trại phổ biến nhất ở các nơi với quy mô khác nhau.
Trang trại hợp tác: là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trại thành một trang trại lớn hơn để tăng thêm khả năng về vốn, tư liệu sản xuất và công nghệ mới tạo ta sức mạnh cạnh tranh.