lời mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc chia làm 3 phần: Chƣơng 1: Lý luận chung về phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Sở giao dịch. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Sở giao dịch. 10 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm “Bất kỳ thu nhập nào mà các ngân hàng kiếm đƣợc từ các hoạt động khác ngoài hoạt động kinh doanh trung gian cốt lõi của họ (nhận tiền gửi và cho vay) hoặc từ các khoản đầu tƣ của họ đƣợc phân loại là thu nhập ngoài lãi. Thu nhập này cũng thƣờng đƣợc gọi là “thu nhập phí” vì phí chiếm tỷ lệ lớn trong thu nhập ngoài” (Ron J.Feldman và Jason Schmidt, 1999). “Dịch vụ phi tín dụng là khoản thu nhập của ngân hàng thƣơng mại đƣợc hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tƣ và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm, dịch vụ cũng nhƣ các hoạt động kinh doanh, đầu tƣ.
Tỷ lệ dịch vụ phi tín dụng càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng nhƣ hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng” (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010). “Dịch vụ phi tín dụng là thu nhập thuần của một số khoản mục thu nhập và chi phí (không tính đến thu nhập và chi phí lãi) nhƣ sau: hoa hồng nhận và thanh toán liên quan đến dịch vụ thanh toán, giao dịch chứng khoán và dịch vụ liên quan (phát hành mới, giao dịch, quản lý danh mục đầu tƣ, lƣu ký an toàn) và giao dịch ngoại hối của chính ngân hàng cũng nhƣ đại diện cho khách hàng. Thu nhập từ các giao dịch đặc biệt không thông thƣờng cũng đƣợc đƣa vào dịch vụ phi tín dụng” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, 2001).
11 Theo đó có thể khái quát và đƣa ra khái niệm dịch vụ phi tín dụng nhƣ sau: “Dịch vụ phi tín dụng là khoản thu nhập của ngân hàng thương mại được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm, dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Tỷ lệ dịch vụ phi tín dụng càng lớn thể hiện mức độ đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ khác ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này. Nó cũng đồng nghĩa với việc phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh giữa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng” (Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền, 2010). Đặc điểm của dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại EU Banks’ Income Structure (2000) nêu rõ dịch vụ phi tín dụng có những đặc điểm nhƣ sau: Dịch vụ phi tín dụng có liên hệ đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng Tuy tăng trƣởng dịch vụ phi tín dụng không thể hoàn toàn bù đắp đƣợc nếu thu nhập lãi sụt giảm nhƣng dịch vụ phi tín dụng góp phần củng cố tổng lợi nhuận của ngân hàng.
Tuy nhiên, nếu việc tăng trƣởng dịch vụ phi tín dụng đi kèm với tăng chi phí hoạt động thì hiệu quả của dịch vụ phi tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng sẽ mang tính tiêu cực. Dịch vụ phi tín dụng phụ thuộc vào quy mô của ngân hàng Những ngân hàng có quy mô lớn có nhiều cơ hội để phát triển và duy trì các hoạt động kinh doanh phi tín dụng để tìm kiếm thu nhập cao hơn. Ngoài ra, độ lớn của họ cũng mang lại lợi thế cạnh tranh trong việc vận hành các sản phẩm dịch vụ bán chéo và chuyên môn hóa. Việc cung cấp một loạt sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng cũng giúp tăng năng suất và chi phí hiệu quả, đồng thời giúp đa dạng hóa rủi ro và cấu trúc kinh doanh.
12 Tuy nhiên, các ngân hàng có quy mô nhỏ có thể tập trung phát triển theo phân khúc khách hàng đặc thù để mang lại hiệu quả dịch vụ phi tín dụng cao. Dịch vụ phi tín dụng ít biến động hơn thu từ lãi Các biến động của nền kinh tế và chính sách điều hành kinh tế vĩ mô ít ảnh hƣởng đến dịch vụ phi tín dụng so với thu từ lãi. Trong cơ cấu dịch vụ phi tín dụng, thu nhập từ chứng khoán thƣờng chịu nhiều biến động nhất. Trong khi đó, khoản thu từ hoa hồng và phí dịch vụ thanh toán thƣờng có tính ổn định cao.
Phân loại dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại Ron J.Feldman và Jason Schmidt (1999) cho rằng dịch vụ phi tín dụng bao gồm các khoản thu sau: - Thu từ hoạt động ủy thác; - Phí dịch vụ ngân hàng điện tử: Các sản phẩm dịch vụ NHĐT bao gồm Phone banking; Mobi banking; Internet banking; Home banking; Call centre; ví điện tử, POS; ATM…; - Thu nhập từ hoạt động thƣơng mại: Thu từ cung cấp các công cụ tài chính liên quan đến hàng hóa, ngoại hối, lãi suất và chứng khoán vốn; - Thu nhập phí: Phí từ thẻ tín dụng, tái cấp vốn và thế chấp, chứng khoán hóa các khoản vay, bán các quỹ và phụ phí ATM; - Phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi: Phí quản lý tài khoản, phí không duy trì số dƣ và xử lý séc; - Các thu nhập ngoài phí khác: Dịch vụ xử lý dữ liệu, thu nhập từ bán tài sản nhỏ và thu nhập khác không bao gồm những khoản kể trên nhƣ dịch vụ tƣ vấn tài chính cá nhân, bán bảo hiểm và cho thuê két sắt… Brunnermeier. Palia (2012) đánh giá nguồn dịch vụ phi tín dụng bao gồm các khoản thu nhập từ kinh doanh chứng khoán, đầu tƣ và phí tƣ vấn, phí hoa hồng môi giới và thu nhập ủy thác. 13 Theo World Bank (2010), tổng dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại bao gồm các khoản sau: + Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối; + Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ (thẻ, ngân hàng điện tử, ngân quỹ, tài trợ thƣơng mại, thanh toán…); + Lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tƣ; + Lãi thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh; + Thu nhập từ hoạt động góp vốn và mua cổ phần + Lãi thuần từ HĐKD khác; 1. Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1.
Quan niệm về phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại Theo từ điển bách khoa, “phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. “Phát triển là quá trình một xã hội đạt đến thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội đó coi là cơ bản. Ở đây, phát triển đƣợc xem là một quá trình và một xã hội đƣợc coi là phát triển khi xã hội đó thỏa mãn các nhu cầu cơ bản” (Gerard Crellet, 2000). Từ các quan điểm khác nhau trên đây, theo tác giả phát triển là quá trình tăng tiến, chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lƣợng sản phẩm, sự hoàn thiện, tiến bộ về cơ cấu nền kinh tế.
Đó là sự nâng cao chất lƣợng, sự tiến bộ, thịnh vƣợng làm cho cuộc sống con ngƣời trở nên tốt đẹp hơn. Dịch vụ phi tín dụng là các dịch vụ ngân hàng dựa trên lệ phí không liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại lý hoặc khách hàng doanh nghiệp. Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính. Ví dụ dịch vụ phi tín dụng bao gồm sự tin tƣởng và các khoản thu liên quan đến đầu tƣ, 14 quản lý tiền mặt toàn cầu, trao đổi tiền tệ nƣớc ngoài (Thomas P.
Fitch, Từ điển thuật ngữ ngân hàng của Nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản lần thứ 5). Với quan điểm này, tác giả đƣa ra quan điểm phát triển DVPTD dựa trên hai khía cạnh đó là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, có nghĩa là “Phát triển DVPTD là tăng qui mô, số lượng, chất lượng của dịch vụ phi tín dụng đã có, đồng thời phát triển thêm dịch vụ mới”. Sự cần thiết phải phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại + Phát triển dịch vụ phi tín dụng sẽ góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và nâng cao giá trị ngân hàng: “Phát triển dịch vụ phi tín dụng sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động đối với các ngân hàng, đặc biệt là đối với các ngân hàng lớn” (Baele và cộng sự, 2007). “Tỷ lệ dịch vụ phi tín dụng tác động cùng chiều đến ROE” (DeYoung và Rice, 2004).
“Những ngân hàng lớn sử dụng đòn bẩy nhiều hơn, biểu thị tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và khả năng sinh lời về ROE cao hơn những ngân hàng vừa và nhỏ. Các ngân hàng lớn thƣờng có tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản thấp hơn. Điều này phù hợp với thực tế các ngân hàng lớn có dịch vụ phi tín dụng cao hơn bao gồm nhiều hoạt động kinh doanh phi truyền thống hơn” (Mingqi Li và Tiananqi Feng, 2015). + Phát triển dịch vụ phi tín dụng giúp giảm rủi ro và đa dạng nguồn thu: “Dịch vụ phi tín dụng đóng vai trò tích cực làm tăng hiệu quả tài chính đồng thời ổn định hiệu quả tài chính của các ngân hàng” (Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Mạt, 2015).
Các chỉ tiêu đánh giá phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Các chỉ tiêu định lượng 15 Tốc độ tăng trưởng số lượng khách hàng và doanh số từ dịch vụ phi tín dụng Doanh số là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng. Doanh số hoạt động dịch vụ này càng lớn tức là lƣợng khách hàng sử dụng dịch vụ phi tín dụng càng cao, thị phần càng nhiều. Do đó, dịch vụ phi tín dụng càng đa dạng và hoàn thiện hơn.