lời mở đầu, kết luận, luận văn đƣợc kết cầu gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ bán lẻ của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Uông Bí giai đoạn 2015 - 2017. Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Uông Bí đến năm 2020. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế thị trƣờng 1. Khái niệm Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM. Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 đã xác định “tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán” và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì “ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán”. Từ những nhận định trên có thể thấy: “NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ ngân hàng với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Hoạt động ngân hàng thương mại a.
Hoạt động huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có, hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng thƣơng mại trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Trong 9 hoạt động này ngân hàng thƣơng mại đƣợc sử dụng các công cụ và biện pháp mà pháp luật cho phép để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: nhận tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá, vay vốn, huy động vốn khác. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Ngân hàng thƣơng mại đƣợc cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dƣới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại bao gồm: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ - Dịch vụ cung ứng các phƣơng tiện thanh toán - Dịch vụ thanh toán trong nƣớc cho khách hàng - Dịch vụ thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý. - Thực hiện dịch vụ thu hộ, chi hộ các các tổ chức và cá nhân.
- Phát triển các sản phẩm ngân hàng điện tử - Các sản phẩm khác nhƣ tƣ vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc. Các hoạt động khác Các NHTM không đƣợc sử dụng vốn huy động để góp vốn đầu tƣ, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác nhƣng đƣợc sử dụng từ nguồn vốn tự có để đa dạng hoá danh mục đầu tƣ, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh theo quy định của pháp luật. Tham gia thị trƣờng tiền tệ: Thị trƣờng đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trƣờng nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trƣờng giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của ngân hàng nhà nƣớc. Hoạt động uỷ thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc 10 quản lý tài sản, vốn đầu tƣ của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng.
Hợp tác với các công ty bảo hiểm để kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Hoạt động dịch vụ chứng khoán. Các hoạt động khác nhƣ bảo quản vật quý hiếm, giấy tờ có giá, cho thuê két, dịch vụ cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của Pháp luật. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ngân hàng thƣơng mại 1.
Khái niệm, đặc điểm Theo khái niệm của WTO: “Ngân hàng bán lẻ là nơi khách hàng cá nhân có thể đến giao dịch tại những điểm giao dịch của ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như: Gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ khác đi kèm”. Còn theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT: dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo Từ điển giải nghĩa Tài chính – Đầu tƣ – Ngân hàng – Kế toán Anh – Việt, Nhà xuất bản khoa học và kinh tế 1999 cho rằng: dịch vụ NHBL là các dịch vụ ngân hàng được thực hiện với khách hàng là công chúng, thường có quy mô nhỏ và thông qua các chi nhánh nhằm đối lập với dịch vụ ngân hàng bán buôn là dịch vụ ngân hàng dành cho các định chế tài chính và những dịch vụ ngân hàng được cung cấp với số lượng lớn. Tóm lại, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có thể hiểu một cách đầy đủ nhƣ sau: “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung ứng đến từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng thông qua các phương tiện thông tin điện tử viễn thông”.
Qua khái niệm trên ta có thể thấy rằng dịch vụ NHBL là một bộ phận cấu thành nên sản phẩm dịch vụ của các NHTM. Dịch vụ này chủ yếu phục vụ cho các 11 đối tƣợng cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ với các hoạt động nhƣ: gửi tiền, vay vốn, mở tài khoản, thanh toán… tƣơng đối đơn giản nhƣng lại đòi hỏi công nghệ, trang thiết bị hiện đại. Các dịch vụ này hứa hẹn sẽ mang lại nguồn thu lớn cho các ngân hàng có định hƣớng, chiến lƣợc phát triển hợp lý trong giai đoạn hiện nay. Đặc điểm: Dịch vụ bán lẻ tạo nên những giao dịch nhỏ, lẻ, giảm thiểu rủi ro so với các sản phẩm bán buôn.
Phục vụ chủ yếu cho các khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Giao dịch bán lẻ có số lƣợng lớn vì nó chủ yếu phục vụ nhu cầu khách hàng cá nhân là thành phần chủ đạo trong xã hội. - Giá trị từng khoản giao dịch không cao (từ vài nghìn VNĐ đến vài tỷ VNĐ). Ví dụ nhƣ đối với dịch vụ thẻ, đặc biệt là loại thẻ ghi nợ nội địa thì giá trị giao dịch có thể dao động từ vài chục ngàn đồng đến vài chục triệu đồng, còn đối với sản phẩm vay mua ô tô, mua nhà có thể lên đến hàng tỷ đồng… - Sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ rất đa dạng, vừa có sản phẩm thuộc tài sản nợ nhƣ tiết kiệm dân cƣ, vừa có sản phẩm thuộc tài sản có nhƣ cho vay cá nhân.
Các sản phẩm bán lẻ phục vụ hầu hết các nhu cầu của khách hàng nhƣ nhu cầu vay mua nhà, ô tô, đồ dùng gia đình, nhu cầu gửi tiền, rút tiền … - Để phát triển dịch vụ bán lẻ đòi hỏi ngân hàng phải có nền tảng cơ sở vật chất tốt, nhƣ hệ thống mạng lƣới các chi nhánh và các phòng giao dịch phải rộng khắp, địa điểm thuận lợi giao thông, tiện lợi giao dịch với khách hàng. Các điểm đặt ATM và POS phải đƣợc tiến hành xây dựng và triển khai đủ để phục vụ nhu cầu rút và thanh toán tiền của khách hàng. Bên cạnh đó là hệ thống máy tính phải đƣợc trang bị đầy đủ từ hội sở đến chi nhánh, tiện lợi cho việc truy cập và tìm kiếm thông tin… - Dịch vụ bán lẻ là những giao dịch nhỏ lẻ, cho nên đòi hỏi ngân hàng phải có hệ thống thông tin hiện đại để kiểm soát tất cả các giao dịch và thông tin của khách hàng. - Để phát triển các dịch vụ bán lẻ yêu cầu ngân hàng phải có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, năng động sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm… phụ trách trực tiếp mảng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng.
- Mức độ rủi ro của các giao dịch bán lẻ thƣờng thấp, vì lợi nhuận đem lại của 12 từng giao dịch bán lẻ thƣờng nhỏ. Từ những khoản lợi nhuận nhỏ này nhƣng với số lƣợng các giao dịch bán lẻ lớn đã tạo ra một khối lợi nhuận khổng lồ mà an toàn hơn so với hình thức bán buôn truyền thống. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ a. Đối với khách hàng và nền kinh tế Đối với nền kinh tế: dịch vụ ngân hàng bán lẻ có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn của mọi đối tƣợng thuộc các thành phần kinh tế để cung cấp đa dạng các dịch vụ ngân hàng; cho vay cải thiện đời sống dân cƣ; hạn chế thanh toán tiền mặt; góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng; phân bổ nguồn lực hiệu quả cả về không gian (từ ngƣời có vốn nhàn rỗi sang ngƣời có nhu cầu) và cả về thời gian (cân đối dòng tiền trong suốt chuỗi thời gian).