phần mở đầu, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là “cho vay tiêu dùng”, tức là cho vay những cá nhân có nhu cầu tiêu dùng nhưng chưa có vốn/tiền để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu. Tuy nhiên, để 9 được NHTM cho vay, trước hết các cá nhân phải có điều kiện về độ tuổi và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật theo từng thời kỳ tại mỗi quốc gia. ” “Từ những nội dung trình bày, phân tích trên đây có thể hiểu “Cho vay tiêu dùng của/tại NHTM là một hình thức cấp tín dụng theo thỏa thuận giữa NHTM với khách hàng cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn/ cho khách hàng cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời đáp ứng được mục tiêu kinh doanh của NHTM”. Khái niệm này sẽ được sử dụng trong nghiên cứu các nội dung của đề tài luận văn.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Hoạt động cho vay tiêu dùng có 5 đặc điểm chính, cụ thể như sau: Thứ nhất, CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ của nền kinh tế. Chi tiêu của mỗi người phụ thuộc vào thu nhập của người đó. Thu nhập lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng là chu kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, mọi người kỳ vọng rằng trong tương lai thu nhập của mình sẽ tăng cao và họ có khả năng chi tiêu nhiều hơn.
Đồng thời, nhà sản xuất có động lực sản xuất ra nhiều mặt hàng đa dạng về mẫu mã, chủng loại cũng như nâng cao được chất lượng sản phẩm, từ đó thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Nếu thu nhập của người dân không đủ để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của họ thì họ sẽ phát sinh nhu cầu vay vì tin tưởng rằng với nền kinh tế lạc quan như vậy thì thu nhập trong tương lai của họ sẽ hoàn trả được các khoản vay ngân hàng. Các ngân hàng cũng lạc quan về nền kinh tế đó nên sẽ mở rộng quy mô CVTD. Vì vậy, CVTD sẽ phát triển khi nền kinh tế tăng trưởng.
Ngược lại, với nền kinh tế suy thoái thì quy mô CVTD sẽ bị thu hẹp. Thứ hai, giá trị các khoản vay tiêu dùng nhỏ. Đặc điểm này xuất phát từ đối tượng của CVTD là cá nhân và hộ gia đình. Họ thường vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khi mà tích lũy chưa đủ khả năng chi trả, mặt khác giá trị tiêu dùng là các hàng hóa và dịch vụ thường có giá trị không lớn dẫn đến quy mô các khoản vay này cũng nhỏ, nhưng số lượng khoản vay lại rất lớn do số lượng hộ gia đình lớn và nhu cầu chi tiêu đa dạng Thứ ba, nguồn trả nợ không ổn định, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Nguồn trả 10 nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, thu nhập này có thể thay đổi tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, công việc cũng như cơ cấu, chu kỳ của nền kinh tế. Những khách hàng (KH) có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để các NHTM quyết định việc cho vay. Thứ tư, lãi suất các khoản CVTD cao hơn các khoản vay khác của Ngân hàng (NH). Do quy mô của các khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí để cho vay (thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản vay) cao.
Đồng thời, các khoản CVTD có rủi ro cao do tình hình tài chính của KH có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo trình trạng công việc hay sức khỏe của họ. Thứ năm, tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định. Bên cạnh đánh giá năng lực tài chính của khách hàng thì một yếu tố quan trọng mà nhân viên ngân hàng không bao giờ bỏ qua đó là xác định tư cách khách hàng- quyết điịnh thiện chí trả nợ của cá nhân, hộ gia đình. Tuy nhiên việc thu thập thông tin của nhóm khách hàng này khó đầy đủ và chính xác.
Ví dụ như đối với khách hàng doanh nghiệp ngân hàng có thể đánh giá tình hình tài chính của khách hàng thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán, nhưng đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình thì lại không có các báo cáo như vậy, mà đa phần là dựa trên thông tin khách hàng cung cấp nên ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc kiểm chứng, đánh giá mức thu, chi. Điều này dẫn tới nếu như khách hàng không trung thực thì kết quả đánh giá sẽ không chính xác, ngân hàng đưa ra quyết định sai lầm và một lựa chọn sai lầm được đưa ra, rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi. Các hình thức cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng rất đa dạng và phong phú. Tùy từng tiêu thức khác nhau mà CVTD có thể chia thành nhiều loại khác nhau.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng - Cho vay tiêu dùng ngắn hạn: là khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng. Khoản vay này thường được sử dụng cho các trường hợp có tính cấp bách, nhất thời như khám chữa bệnh, học tập hay đi du lịch… - Cho vay tiêu dùng trung dài hạn: Thời hạn vay từ 12 tháng trở lên. Mục 11 đích sử dụng để mua, sửa chữa nhà, mua các thiết bị sinh hoạt có giá trị lớn…. Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay - Cho vay tiêu dùng cư trú: là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng.
Đặc điểm của các khoản CVTD cư trú là có giá trị lớn, thời hạn khá dài, đem lại nguồn thu nhập tương đối ổn định cho ngân hàng, rủi ro của khoản cho vay này chịu ảnh hưởng bởi những biến động của thị trường bất động sản do tài sản đảm bảo cho khoản vay thường là tài sản hình thành từ vốn vay. - Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí, du lịch.Các khoản CVTD này thường nhỏ lẻ và thời hạn vay ngắn hơn so với CVTD cư trú. Căn cứ vào hình thức vay - Cho vay tiêu dùng trực tiếp: đây là hình thức cho vay trong đó NH trực tiếp tiếp xúc và cho KH vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này. Bao gồm các phương thức sau: - Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay trong đó KH đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho NH nhiều lần và theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay.
Phương thức này thường áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn, hoặc thu nhập từng định kỳ của KH vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay - Cho vay tiêu dùng phi trả góp: tiền vay trả được KH thanh toán cho NH một lần khi đáo hạn. Hình thức cho vay này chỉ phù hợp với khoản cho vay có giá trị nhỏ và thời gian ngắn. - Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là các khoản cho vay trong đó NH cho phép KH sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được trong từng kỳ, KH được NH cho phép vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng 12 - Cho vay tiêu dùng gián tiếp: là việc ngân hàng thay người vay trả tiền cho nhà sản xuất hay nhà cung ứng bán hàng hóa.
Đây là hình thức phối hợp giữa ngân hàng và các tổ chức bán lẻ hàng hóa. Sau đó, định kỳ ngân hàng sẽ thực hiện thu nợ từ người vay. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng - Cho vay có đảm bảo bằng tài sản (Thế chấp): là phương thức cho vay mà khách hàng có tài sản để thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba nhằm đảm bảo cho mức độ an toàn cho khoản vay của họ. - Cho vay không đảm bảo bằng tài sản (Tín chấp): là phương thức cho vay mà khách hàng không có tài sản để thế chấp hoặc cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân KH.
Vai trò của cho vay tiêu dùng a. Đối với ngân hàng Theo Tô Ngọc Hưng (2014), cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng đối với các NHTM: - Cho vay tiêu dùng mở rộng mối quan hệ với khách hàng: Một đặc điểm dễ dàng nhận thấy của sản phẩm ngân hàng đó là tính vô hình. Cụ thể, khi chọn nhà cung ứng cho các sản phẩm, dịch vụ vô hình, người tiêu dùng thường dựa trên kinh nghiệm của bản thân, kinh nghiệm của những người đã từng sử dụng trước đó. Như vậy, chỉ cần ngân hàng tạo được ấn tượng tốt với khách hàng thông qua việc cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng, thì khi khách hàng hoặc người quen của họ phát sinh nhu cầu về các sản phẩm ngân hàng, khả năng khách hàng hoặc người thân của họ tìm tới chính ngân hàng đó là rất cao.
- Góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, phân tán rủi ro: Thay vì chỉ tập trung vào cho vay đối với lĩnh vực sản xuất, hay đối tượng khách hàng là doanh nghiệp, thì sản phẩm cho vay tiêu dùng tạo cơ hội cho ngân hàng được tiếp cận với một đối tượng khách hàng mới, nhiều về số lượng và đa dạng về nhu cầu. Điều này giúp cho danh mục cho vay của ngân hàng không bị quá phụ thuộc vào một ngành hay lĩnh vực nào cả. Đối với khách hàng. + Tác động tích cực: Thông qua vay tiêu dùng, người tiêu dùng được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền, nhờ đó góp phần nâng cao mức sống, tạo niềm hưng phấn, tích cực lao động sản xuất.
Đặc biệt đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu có tính cấp bách như giáo dục và y tế. Đồng thời khuyến khích việc tăng thu nhập và tiết kiệm chi tiêu để trả nợ vay. Đối với người tiêu dùng: CVTD là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Nhờ những khoản vay tiêu dùng từ ngân hàng, họ có thể mua sắm những hàng hoá cần thiết, các hàng hoá xa xỉ, có giá trị cao, giúp thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và cải thiện cuộc sống ngay cả khi khả năng tài chính hiện tại của họ chưa cho phép thực hiện điều đó.