CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở pháp lý của cho vay khách hàng cá nhân Sự phát triển hoạt động cho vay trong nền kinh tế luôn chiếm một vai trò quan trọng. Do đó Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách quan tâm và tạo điều kiện để thúc đẩy hoạt động này, đặc biệt là ban hành nhiều quy định để kiểm soát dòng tiền cho vay, cụ thể như sau: - Luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024 do Quốc Hội ban hành; - Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12 do Quốc Hội ban hành ngày 16/06/2010; - Thông tư 39/2016/TT-NHNN do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành ngày 30/12/2016; - Nghị định 55/2015/NĐ-CP ban hành ngày 09/06/2015 về “Chính sách tín dụng phục vụ Phát triển nông nghiệp, Nông thôn”; - Các luật khác có liên quan: Luật thương mại năm 2005; Luật đất đai năm 2024 (có hiệu lực từ 01/01/2025, thời điểm hiện tại áp dụng Luật đất đai năm 2013); Luật nhà ở năm 2023; Bộ luật dân sự năm 2015,. Nhằm đảm bảo và kiểm soát tính đúng mục đích, an toàn, hiệu quả của hoạt động cho vay.
Cơ sở khoa học 1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học - Phương pháp thu thập số liệu là phương pháp tìm kiếm và tổng hợp thông tin, kiến thức, lý thuyết từ các nguồn đã có sẵn từ đó xây dựng lý luận và chứng minh và tổng hợp tạo thành các luận điểm. - Phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp nghiên cứu dựa trên thu thập các thông tin, dữ liệu phi số, làm căn cứ cho hoạt động nghiên cứu. 5 - Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm là phương pháp thu thập, học tập và gom lại những kết quả từ những nghiên cứu khoa học trước từ đó làm nền tảng cho nghiên cứu khoa học đang thực hiện.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Đối tượng nghiên cứu Đề án nghiên cứu hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank chi nhánh khu vực Cát Hải Bắc Hải Phòng b.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Tại đảo Cát Hải và Agribank chi nhánh khu vực Cát Hải. - Phạm vi về thời gian: Từ năm 2019 đến năm 2023. - Phạm vi về nội dung: Đề án nghiên cứu về hoạt động cho vay đối với khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh.3 Tổng quan về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về cho vay khách hàng cá nhân Theo khoản 7, Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay”. Như vậy, “cho vay khách hàng cá nhân có thể hiểu là hình thức cấp tín dụng, qua đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, sau một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi”.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại 6 Cho vay KHCN là sản phẩm được thiết kế để hướng tới đối tượng là các cá nhân, các hộ gia đình có nhu cầu vay vốn nhằm đáp ứng cho mục đích sinh hoạt đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh.
Số lượng khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, số lượng này nhiều hơn khách hàng doanh nghiệp. Về nhu cầu vay vốn, khách hàng cá nhân có nhu cầu vay rất đa dạng nhưng nhìn chung nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thường xuyên, chịu sự ảnh hưởng khá lớn bởi các tác động và môi trường bên ngoài. Thời hạn cho vay đối với KHCN cũng khá linh hoạt và đa dạng, được chia thành các thời hạn vay khác nhau khác nhau: Ngắn hạn, Trung hạn hay Dài hạn tùy thuộc vào tính chất, mục đích sử dụng vốn và hình thức vay cũng như là dòng tiền trả nợ của khách hàng. Về mặt quy mô, các khoản vay của KHCN tuy nhiều về mặt số lượng nhưng nhìn chung quy mô khoản vay thường nhỏ hơn so với các khoản vay của doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, phần lớn các NHTM đánh vào thị phần bán lẻ, đi theo định hướng ngân hàng bán lẻ thì số lượng các khoản vay của KHCN là rất lớn. Do đó, tổng quy mô các khoản vay KHCN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của Ngân hàng và chiếm lĩnh một vai trò quan trọng, làm tiền đề thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Mặt khác, với đặc điểm nhiều về số lượng các khoản vay và mỗi khoản vay nhỏ về quy mô, điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng phải bỏ ra nhiều chi phí trong việc phát triển khách hàng, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay. Do đó, chi phí tính trên mỗi đồng cho vay đối với KHCN thường lớn hơn so với KHDN.
Trung bình lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Thực tế cho thấy bởi vì các chi phí của hoạt động cho vay KHCN lớn, tính chất của các khoản vay KHCN luôn tiềm ẩn mức độ rủi ro cao. Vì vậy khung lãi suất cho vay cũng có phần nhỉnh hơn so với các khoản cho vay khác. Cho vay đối với KHCN có nhiều rủi ro hơn so với cho vay đối với KHDN, bởi: 7 + Vay phục vụ nhu cầu đời sống: Đối tượng vay này phần lớn là công nhân, viên chức, những người làm công ăn lương tại các tổ chức, đơn vị,., Khách hàng vay vốn để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong cuộc sống hằng ngày.
Do đó, Nguồn trả nợ của khách hàng sẽ phụ thuộc vào nguồn thu nhập hàng tháng để trả nợ. Trong trường hợp điều kiện về công việc và sức khỏe của khách hàng không đảm bảo như đau ốm đột xuất, bị tai nạn, thất nghiệp.không đi làm được thì sẽ không trả được hoặc khó khăn trong việc trả nợ khoản vay tại Ngân hàng. Hoặc trong trường hợp nếu khách hàng bị chậm lương do công ty, xí nghiệp, các đơn vị, cơ quan thì khách hàng cũng sẽ chưa có nguồn tiền để trả nợ, dẫn đến quá hạn hoặc không đảm bảo phân kỳ trả nợ như cam kết. + Vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: ngành nghề kinh doanh đa dạng, nhưng nhìn chung khả năng quản lý của các cá nhân và hộ gia đình thường thiếu chuyên nghiệp, trình độ về mặt kỹ thuật chưa cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế, việc áp dụng các công cụ thiết bị hiện đại chưa phổ biến.
Bên cạnh đó, việc kinh doanh chưa có những thay đổi lớn trong quảng bá thương hiện, vẫn sản xuất kinh doanh mang tính chất truyền thống là chủ yếu. Do đó, khi nền kinh tế trở nên nhạy cảm, tính thích ứng và thay đổi để không bị đào thải của các cá nhân, hộ kinh doanh thấp, dẫn đến rủi ro về khả năng tạo nguồn doanh thu sẽ bị ảnh hưởng lớn. Vì vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người vay gặp tai nạn, tình hình kinh doanh trở nên khó khăn hay phá sản… Nên, trong trường hợp cho vay, mà khách hàng có tài sản đảm bảo (TSĐB), thì thường các khoản vay đó sẽ làm tăng mức độ tin cậy hơn. Trong những trường hợp rủi ro bất khả kháng xảy ra đối với khách hàng, ngân hàng vẫn có phương án giải quyết dự phòng, giảm thiểu rủi ro hơn so với các khoản vay không có TSĐB.3 Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân * Đối với khách hàng 8 Đối với cho vay tiêu dùng: Khả năng tiếp cận nguồn vốn tương đối nhanh và dễ dàng, giúp khách hàng có thể cải thiện được chất lượng cuộc sống.
Khách hàng có khả năng vay để chi trả cho những hàng hóa có chất lượng tốt nhất ngay cả khi họ chưa đủ khả năng để chi trả toàn bộ những hàng hóa đó ngay lập tức hay trong một lần thanh toán. Khách hàng có nguồn tiền để mua sắm những tài sản có giá trị lớn như mua đất, mua xe hoặc có nguồn vốn để xây dựng, sửa chữa nhà ở,. Đối với cho vay sản xuất kinh doanh: Cá nhân, hộ kinh doanh sẽ dễ dàng tiếp cận vốn một cách linh hoạt và nhanh chóng để thực hiện việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện phương án sản xuất kinh doanh mới mà không cần mất nhiều thời gian đi vay từ người thân, người quen hay đi kêu gọi vốn góp khác. Vay vốn tại Ngân hàng cũng giúp cho cá nhân, hộ kinh doanh chủ động được kế hoạch tài chính, dễ dàng sắp xếp nguồn trả nợ và kinh doanh hợp lý.
* Đối với ngân hàng Sự phát triển bền bỉ và liên tục của hoạt động cho vay KHCN giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mặc dù tồn đọng nhiều rủi ro, nhưng mức biên độ lãi suất áp dụng cho vay KHCN tương đối cao, giúp cho hoạt động cho vay KHCN tạo ra một tỷ suất lợi nhuận không hề nhỏ. Việc Phát triển hoạt động cho vay KHCN ngoài việc giúp ngân hàng vừa mở rộng được tệp khách hàng, tận dụng được nguồn vốn huy động một cách hiệu quả mà còn đa dạng hóa được sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tăng được doanh thu từ hoạt động dịch vụ đi kèm, bán chéo thêm được các sản phẩm khác của Ngân hàng. * Đối với nền kinh tế Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, ổn định cuộc sống của người dân.
Đối với cho vay tiêu dùng, khách hàng vay vốn có thể cải thiện được chất lượng cuộc sống khi mức thu nhập tích lũy chưa đủ để đảm bảo được các lợi 9 ích đó. Nhờ cải thiện được cuộc sống, khách hàng vay vốn cũng yên tâm làm việc, tiết kiệm để trả nợ; thúc đẩy sự gia tăng khối lượng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ trong nền kinh tế. Đối với cá nhân, hộ kinh doanh vay với mục đích sản xuất kinh doanh, khoản vay này giúp cho cá nhân, hộ kinh doanh gia tăng quy mô sản xuất, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh.