CHƯƠNG 1. TONG QUAN mang xã hội cho Tiếng Việt. Các đóng góp của luận văn Luận văn này có các đóng góp chính như sau: * Xây dựng quy trình gan nhãn, xây dựng phương pháp đánh giá chất lượng bộ di liệu các câu bình luận mang tính xúc phạm trên mạng xã hội. * Phân tích sự ảnh hưởng của ngữ cảnh đối sự đồng thuận của các người gán nhãn trong quá trình gan nhãn, từ đó dé xuất hướng cải tiền độ đồng thuận.
* Đánh giá hiệu năng của các mô hình máy học bao gồm TextCNN, GRU, các mô hình học chuyển tiếp đa ngôn ngữ gồm BERT, XLM-R, DistilBERT, và các mô hình học chuyển tiếp đơn ngôn ngữ cho tiếng Việt gồm PhoBERT và BERT4news. * Đánh giá sự ảnh hưởng của các phương pháp tăng cường dữ liệu đối với các mô hình máy học trên bộ dữ liệu. * Đánh giá sự ảnh hưởng của các thao tác tiền xử lý như tách từ, loại bỏ từ stopwords, loại bỏ emoji và các ký tự đặc biệt đối với hiệu năng của các mô hình phân lớp trên bộ dữ liệu. + Dé xuất mô hình kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả phân loại cho bài toán nhận điện câu bình luận có tính xúc phạm.
Ngoài ra, luận văn này cũng có một công bố khoa học đã được chấp nhận ở hội nghị khoa học quốc tế như sau: Son T. Luu, Kiet Van Nguyen, Ngan Luu-Thuy Nguyen, A Large-scale Dataset for Hate Speech Detection on Vietnamese Social Media Texts, The 34th International Conference on Industrial, Engineering & Other Applications of Applied Intelligent Systems (IEA/AIE 2021) 1. CÁC ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Bảng 1. Khảo sát tổng quan về các bộ dữ liệu hiện có Bộ dữ liệu (tác | Ngôn ngữ Nhãn Số lượng giả bộ dữ liệu) dữ Waesem và | Tiêng Anh 3 nhãn: Sexist, Racist, và Not | 16,914 Hovy (2016) 2] Davidson và | Tieng Anh 3 nhan: Hate, Offensive, Nei- | 24,802 các đồng sự ther (2017) [8] Founta và các | Tiêng Anh 4 nhãn: Abusive, Hateful, 80,000 đồng sự (2018) Normal, Spam I9] Albadi và các | Tiếng A Rap 2 nhãn: Hate, Not 6,136 đồng sự (2018) [I0] Zampieri và | Tiếng Anh Nhãn phân cap, gom Binary | 14,100 các đồng sự (Offensive, Not), Within Of- (2019) [11] fensive (Target, Not), Within Target (Individual, Group, Other) Fortuna và các | Tiêng BO Dao | Nhãn phan cap: gom 2 nhãn: | 3,059 đồng sự (2019) | Nha Hate và Not.
Trong nhãn Hate [12] phân cắp ra làm 81 thuộc tính khác nhau. CONAN Đa ngôn ngữ: | Nhãn phân cap: gom 2 nhãn | 1,719 (2019) [4] Tiếng Anh, | là Islamophobic và not. Trong Tiếng Pháp, và | nhãn Islamophobic chia ra tiếng Ý làm 8 thuộc tính khác nhau, tương ứng với chủ thể xúc phạm mà câu bình luận đề cập đến VLSP Hate | Tiêng Việt 3 nhãn: clean, offensive và | 25,431 speech detec- hate tion — (2020) B] Coltekin và các | Tiêng Tho Nhĩ | Nhãn phân cap, gom 2 nhãn | 36,232 đồng sự (2020) | Kỳ là Hate và Not. Within Hate [13] (Group, Individual), Within Hate (Agressive, Not) Basile và các | Tiêng Anh và | Nhan phân cap, gom 3 | 13,000 đồng su (2019) Tiếng Tây Ban nhóm: Hate (hateful, not [14] Nha hateful), Target (Individual va Generic), va Aggressive (Ag- gressive va non-aggressive) Chương 2.
CƠ SỞ LÝ THUYET Trong chương này, chúng tôi trình bày định nghĩa về bình luận xúc phạm trên mạng xã hội cùng các yếu tố và đặc điểm của bình luận xúc phạm. Để giải quyết cho bài toán bình luận xúc phạm thì bộ dữ liệu dùng cho việc huấn luyện các mô hình máy học để nhận diện được bình luận xúc phạm đóng vai trò then chốt. Do đó, chúng tôi trình bày quy trình MATTER cải tiến của tác giả Finlayson và Erjavec [15] để xây dựng bộ dữ liệu. Bên cạnh đó, chúng tôi trình bày các kỹ thuật trích xuất đặc trưng bằng vector nhúng từ để có thể mã hoá và trích xuất các đặc trưng từ văn bản thô và các phương pháp máy học nhằm xây dựng mô hình phát hiện tự động các câu bình luận có xúc phạm.
Cuối cùng, chúng tôi trình bày các độ đo dùng để đánh giá tính hiệu quả của các mô hình máy học.1 Định nghĩa về bình luận xúc phạm Theo tác giả Fortuna và Nunes [Š], bình luận xúc phạm (hate speech) được định nghĩa là "bình luận mà trong ngôn ngữ có yếu tố công kích (attack) hoặc hạ nhục (diminishes), cổ xúy cho bạo lực và thù ghét giữa các cá nhân, tổ chức hoặc một cộng đồng dựa vào các đặc điểm về ngoại hình, giới tính, tôn giáo, đức tin hoặc những yếu tố khác liên quan đặc điểm riêng của từng cá nhân hay tổ chức. Yếu tố xúc phạm có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau. Thậm chí là khôi hài quá mức cũng được xem là xúc phạm". Theo định nghĩa ở trên, một bình luận xúc phạm thường có 4 đặc điểm như sau: * Có đối tượng xúc phạm cụ thể.
Đối tượng có thể là một cá nhân, hoặc một nhóm người hay thậm chí là một cộng đồng người. Các yếu tổ xúc phạm bao gồm ngoại hình, đức tin, tôn giáo, xuất thân, dân tộc, giới tính, xu hướng tình dục, và các khía cạnh khác liên quan. * Cổ xúy hoặc kích động bạo lực. s Công kích, hạ nhục.
*_Yếu tố khôi hài trong một số trường hợp được xem như là xúc phạm, néu như bình luận đi quá giới hạn của việc khôi hài, gây ảnh hưởng trực tiếp đến người 6 2. ĐỊNH NGHĨA VỀ BÌNH LUẬN XUC PHAM khác. Để nhận dạng được câu bình luận mang tính xúc phạm, các hệ thống cần phải hiểu và trích xuất được các đặc trưng chính của một câu bình luận xúc phạm. tác giả Fortuna và Nunes [5], cách tiếp cận đối với bài toán nhận diện bình luận xúc phạm kế thừa các phương pháp từ bài toán khai phá văn bản (text mining).
Trong bài toán khai phá văn bản, phân tích cảm xúc (sentiment analysis) là kỹ thuật cũng được áp dụng khá thường xuyên nhằm rút trích và hiểu được cảm xúc của con người từ văn bản. Tuy nhiên, theo tác giả Schmidt và Wiegand [16], điểm khác biệt lớn nhất giữa phân tích cảm xúc và nhận diện bình luận xúc phạm là bài toán nhận diện bình luận xúc phạm sẽ nghiên về dự đoán cảm xúc tiêu cực nhiều hơn so với bài toán phân loại cảm xúc bình thường. Cảm xúc tiêu cực được thể hiện qua sự thù ghét, công kích và bạo lực được đề cập hoặc thể hiện trong ý nghĩa của câu bình luận. Bên cạnh đó, bài toán nhận diện bình luận xúc phạm sẽ có 2 dạng tiếp cận: dạng đơn tác vụ (single-step) và dang đa tác vụ (multi-step).
Đối với bài toán đơn tác vụ, kỹ thuật phân tích cảm xúc sẽ tìm ra số các đặc trưng về các cảm xúc tích cực và tiêu cực trong câu bình luận để từ đó kết luận mức độ tiêu cực trong câu bình luận. Đối với bài toán đa tác vụ, kỹ thuật phân tích cảm xúc sẽ làm nhiệm vụ xác định cảm xúc tiêu cực trong bài toán trước tiên, sau đó sẽ đi tìm các minh chứng để chứng minh sự xúc phạm trong câu bình luận dựa vào các tiêu chí đã đề cập. Như vậy, bài toán nhận điện bình luận xúc phạm sẽ sử dụng bài toán phân tích cảm xúc (sentiment analysis) như là kỹ thuật hỗ trợ trong việc nhận diện các đặc trưng chính của các bình luận xúc phạm. Bài toán nhận diện bình luận xúc phạm, cũng như bài toán phân tích cảm xúc đều dựa trên nên tảng là bài toán phân lớp văn bản (text classification).
Mặt khác, đối với bài toán nhận diện bình luận xúc phạm thì các bộ dữ liệu là một trong các yếu tố rất quan trọng để có thể phân tích đặc điểm và xây dựng các mô hình dự đoán các bình luận mang tính xúc phạm một cách tự động [5]. Đối với việc xây dựng bộ dữ liệu thì quy trình xây dựng bộ dữ liệu và hướng dẫn gán nhãn (annotation guidelines) đóng vai trò quyết định đến chất lượng của một bộ dữ liệu [17, 16]. Do đó, việc xây dựng bộ dữ liệu đóng vai trò quyết định đối với bài toán nhận diện và phân loại các bình luận xúc phạm trên mạng xã hội.2 Bộ dữ liệu dùng cho bình luận xúc phạm Dựa theo nhãn của bình luận trong bộ dữ liệu, chúng tôi chia ra làm hai loại: bộ dữ liệu có nhãn phẳng (flat labels) và bộ dữ liệu có nhãn phân cấp (hierarchical labels). Đối với bộ dữ liệu có nhãn phẳng, thì mỗi câu bình luận sẽ chỉ thuộc về một nhãn nhất định nào đó trong tập nhãn, và các nhãn này là phân biệt với nhau, không có mối liên hệ.
Ngược lại, đối với các bộ dữ liệu có nhãn phân cấp, mỗi một nhãn ban đầu sẽ có các nhãn con (sub-labels) để định nghĩa hoặc chỉ định một tính chất hay sự kiện liên quan đến nhãn chính. Các nhãn con này có mồi liên hệ đối với nhãn cha. Theo tác giả Cerri và các đồng sự [18], các bộ dữ liệu có nhãn phân cấp sẽ thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa các đối tượng và thành phần trong câu bình luận đối với nhãn chính. Do đó, các bộ dữ liệu được xây dựng theo các nhãn phân cấp sẽ có ngữ nghĩa rõ hơn so với các bộ dữ liệu được xây dựng theo dạng nhãn phẳng.
Lấy ví dụ về bộ dữ liệu của tác giả Davidson và các đồng sự [8], bộ dữ liệu này thuộc dang nhãn phẳng. Mỗi bình luận trong bộ dữ liệu sẽ thuộc về một trong ba nhãn: hate - nếu như câu bình luận có yếu tô xúc phạm, offensive néu như câu bình luận có yếu tố tiêu cực, và clean néu như câu bình luận không có yếu tổ xúc phạm. Tuy nhiên, với bộ dữ liệu của tác giả Zamperi và các đồng sự [11], thì ngoài 2 nhãn ban đầu là offensive - câu bình luận có tính xúc phạm, và non-offensive - câu bình luận không xúc phạm, đối với nhãn offensive sẽ gồm 2 nhãn con là: target - xúc phạm có chủ đích, và untarget - xúc phạm không chủ đích. Trong nhãn target - xúc phạm có chủ đích, tác giả lại chia ra làm 3 nhãn con khác là: individual - xúc phạm cá nhân, group directed - xúc phạm đến tổ chức, và other - xúc phạm đến các đối tượng khác như: tôn giáo, sự kiện, và cộng đồng.
Như vậy, đối với bộ dữ liệu của tác giả Zampieri và các đồng sự [11], việc chia nhãn ban đầu là offensive thành 3 cấp khác nhau giúp cho bộ dữ liệu có ý nghĩa rõ ràng hơn so với bộ dữ liệu của tác giả Davidson [8], khi mà một bình luận được xác định là xúc phạm trên nhiều yếu tố khác nhau.