CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NHÓM CÔNG TY 1. Khái quát về nhóm công ty 1. Khái niệm nhóm công ty Nhóm công ty (corporate group) là “một hình thức tổ chức kinh tế thông qua sự kết hợp giữa các công ty riêng lẻ, trong đó công ty mẹ giữ vai trò kiểm soát công ty con và tác động đến hoạt động của các chủ thể khác trong nhóm”.2 Nhiều quốc gia trên thế giới không đưa ra khái niệm về nhóm công ty trong quy định pháp luật.3 Thay vào đó, các quy định pháp luật về nhóm công ty thường được tiếp cận từ khái niệm công ty mẹ, công ty con và mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con. Công ty mẹ và công ty con là hai khái niệm thường đi kèm với nhau.
Theo Từ điển Pháp luật của Black (Black’s Law Dictionary), công ty mẹ (parent corporation) là “công ty thường giới hạn các hoạt động của mình trong việc sở hữu cổ phần tại các công ty khác và thực hiện giám sát quản lý đối với các công ty này. Công ty mẹ cần phải nắm giữ quyền kiểm soát trong các công ty mà nó có cổ phần”,4 công ty con (subsidiary corporation) là “công ty bị công ty khác nắm giữ đa số cổ phần và kiểm soát hoặc là công ty mà hơn 50% cổ phiếu biểu quyết bị công ty khác nắm giữ”.5 Tức là công ty mẹ vừa có sở hữu cổ phần vừa có quyền kiểm soát công ty con. Từ điển Luật học năm 2006 của Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp đưa ra định nghĩa công ty mẹ là “công ty nắm một phần hoặc toàn bộ số vốn của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác (gọi là doanh nghiệp con/ công ty con) và có khả năng 2 Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2016), “Kiểm soát giao dịch giữa các bên có liên quan trong nhóm công ty theo pháp luật Hoa Kỳ”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 1(95)/2016, 31. 3 Hà Thị Thanh Bình (2017), “Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh giao dịch giữa các công ty trong nhóm công ty mẹ - công ty con”, Tạp chí Khoa học pháp lý, 03(106)/2017, 36-45.
4 Theo Black’s Law Dictionary, trang 504, được dịch bởi Nguyễn Thị Mai Phương (2006), “Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức tổng công ty Nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con”, Luận án Tiến sĩ, Viện Nhà nước và pháp luật, 24. 5 Theo Black’s Law Dictionary, trang 996, được dịch bởi Nguyễn Thị Mai Phương (2006), “Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức tổng công ty Nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con”, Luận án Tiến sĩ, Viện Nhà nước và pháp luật, 24. 9 kiểm soát một cách hợp pháp hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này”; công ty con là “công ty, trong đó một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ do một doanh nghiệp khác (gọi là công ty mẹ) nắm giữ và bị doanh nghiệp đó kiểm soát chiến lược kinh doanh”. Từ những khái niệm trên, ta có thể cụ thể hóa các phương thức để xác định mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con.
Thực tiễn pháp luật ở các nước nhìn chung đều đồng ý hai tiêu chí để xác định mối quan hệ này là sự kiểm soát về vốn và sự kiểm soát thực tế của công ty mẹ đối với công ty con. Đối với tiêu chí kiểm soát về vốn, điển hình như Luật Công ty của Anh năm 1985 và tu chính năm 1989, công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty con. Tuy nhiên, tỷ lệ được xem là kiểm soát về vốn tại pháp luật của mỗi quốc gia không hoàn toàn thống nhất. Ở Hoa Kỳ, nếu một công ty hoạt động trong các lĩnh vực công ích, ngân hàng hay lĩnh vực đầu tư sở hữu 25% tổng số cổ phần của công ty khác thì được xác định là công ty mẹ của công ty khác đó.6 Đối với tiêu chí kiểm soát thực tế, có thể xác định một công ty được gọi là công ty mẹ của một công ty khác (công ty con) thông qua các phương thức như sau: Thứ nhất, kiểm soát cơ cấu HĐQT.
Theo Luật Công ty của Anh năm 1985 và tu chính năm 1989, một trong những phương thức để A trở thành công ty mẹ của B là khi A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên HĐQT của B. Tức là A phải nắm giữ cổ phần của B, tuy không đến mức đa số nhưng bằng cách nào đó có thể kiểm soát cơ cấu thành viên HĐQT của công ty. Luật Công ty của Úc cũng quy định tương tự tại Điều 46, 47: một công ty được xem là công ty mẹ của một công ty khác khi có quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm phần lớn các chức danh quản lý trong công ty con7. Còn theo Luật Công ty Malaysia, căn cứ vào quyền trực tiếp chỉ định hoặc bãi miễn thành viên HĐQT, theo đó “(i) một cá nhân hoặc tổ chức muốn trở thành thành viên HĐQT phải được sự chấp thuận của công ty mẹ; hoặc (ii) 6 Trần Minh Anh (2019), “Quy định về nhóm công ty trong pháp luật một số quốc gia và những nội dung tham khảo cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 13(389)/2019.
7 Section 46 of Corporations Act No.50 of 2001 (Tham khảo tại Commonweath Numbered Act, đường dẫn: http://www5.au/au/legis/cth/num_act/ca2001172/s46.html, truy cập lần cuối ngày 17/11/2022). 10 công ty mẹ có thể tự mình quyết định hoặc chỉ định người đang là thành viên HĐQT hay là cán bộ lãnh đạo”, để xác định mối quan hệ công ty mẹ - công ty con.8 Thứ hai, kiểm soát số phiếu biểu quyết của công ty. Căn cứ vào quyền kiểm soát số phiếu biểu quyết của công ty để xác định công ty mẹ và công ty con. Ví dụ như Luật Công ty của Anh năm 1985 và tu chính năm 1989 quy định A là công ty mẹ của B khi “(1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B…; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác”, còn theo Luật Công ty của Úc là khi công ty A “nắm giữ hoặc có quyền kiểm soát đối với việc nắm giữ hơn 50% số cổ phiếu biểu quyết của công ty B”9.
Như vậy, mặc dù không sở hữu trên 50% cổ phần, phần vốn góp nhưng nếu một công ty có quyền kiểm soát đa số phiếu bầu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp của công ty khác thì có thể trở thành công ty mẹ của công ty bị kiểm soát đó. Thứ ba, quyền quyết định các vấn đề quan trọng của công ty (như quyết định chính sách tài chính, sản xuất kinh doanh, sửa đổi, bổ sung điều lệ…). Luật Công ty của Nhật Bản căn cứ vào việc một công ty “sở hữu phần lớn cổ phần có quyền biểu quyết hoặc có quyền chi phối hoạt động điều hành của công ty khác” để xác định công ty này là công ty mẹ.10 Theo đó, quyền chi phối hoạt động điều hành có thể thực hiện thông qua các trường hợp: “(i) Đa số hoặc toàn bộ thành viên HĐQT công ty B là người do công ty A cử; (ii) Có một thỏa thuận mà theo đó công ty A có quyền quyết định các vấn đề quan trọng về chiến lược tài chính và kinh doanh của công ty B; (iii) Giá trị khoản vay mà công ty A cho công ty B vay lớn hơn tổng giá trị tài sản của công ty B, hoặc; (iv) Các căn cứ thực tế khác cho thấy công ty A có sự tác động đến các quyết định về tài chính và kinh doanh của công ty B”.11 Nếu công ty A có quyền 8 Nguyễn Thị Luyến (2012), “Đổi mới quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với “công ty mẹ - công ty con” trong khu vực doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 14. 9 Section 46 of Corporations Act No.50 of 2001 (Tham khảo tại Commonweath Numbered Act, đường dẫn: http://www5.au/au/legis/cth/num_act/ca2001172/s46.html, truy cập lần cuối ngày 17/11/2022).
10 Article 2 of the Japanese Companies Act No.86 of July 26, 2005 (Tham khảo tại Japanese Law Translation, đường dẫn: https://www.jp/en/laws/view/3206/en#je_pt1ch1at2, truy cập lần cuối ngày 17/11/2022). 11 Article 3, The Ordinance for Enforcement of the Japanese Companies Act (Tham khảo tại Japanese Law Translation, đường dẫn: https://www.jp/en/laws/view/2841/en#je_pt1ch2at1, truy cập lần cuối ngày 17/11/2022). 11 quyết định những công việc trên của công ty B thì công ty A được coi là công ty mẹ của công ty B. Thứ tư, trở thành công ty mẹ của công ty mẹ của công ty con.
Tiêu chí này dựa theo tính chất bắt cầu, kiểm soát dọc và nó đảm bảo cho sự thống nhất hoạt động giữa các cấp doanh nghiệp trong một nhóm công ty. Theo đó, nếu công ty mẹ (B) của công ty C là công ty con của một công ty khác (A), thì công ty A đương nhiên trở thành công ty mẹ của công ty C, hay nói dễ hiểu hơn thì công ty C là công ty “cháu” của công ty A và chịu sự kiểm soát của công ty A. Điều này được Luật Công ty của Úc ghi nhận12. Ở góc độ kinh tế, theo diễn giải của Chuẩn mực kế toán IAS (International Accounting Standard), công ty con là một đơn vị trực thuộc và bị kiểm soát bởi công ty mẹ.
Quyền kiểm soát của công ty mẹ được thể hiện thông qua các cách thức như: (i) nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (ii) mặc dù có từ 50% số phiếu bầu trở xuống nhưng thông qua sự thoả thuận với các cổ đông khác thì có thể đạt trên 50% số phiếu bầu; hoặc (iii) có quyền quyết định đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của công ty; hoặc (iv) có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm đa số các thành viên của HĐQT, ban lãnh đạo (hoặc có thể tác động đến đa số phiếu bầu tại các cuộc họp HĐQT, ban lãnh đạo). Như vậy, dù là góc độ kinh tế hay pháp luật thì quan điểm được đa số thừa nhận là một công ty sẽ trở thành công ty mẹ của công ty khác khi nó sở hữu cổ phần, phần vốn góp và có quyền chi phối đối với công ty đó – công ty con. Nếu không có khả năng kiểm soát, chi phối, việc nắm giữ cổ phần của công ty này với công ty khác chỉ là quan hệ đầu tư thông thường.13 Trong một nhóm công ty, ngoài tổ hợp công ty mẹ – con còn có tổ hợp của các công ty liên kết.