CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CON DẤU DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm con dấu doanh nghiệp 1. Khái niệm doanh nghiệp Luận văn này, tác giả nghiên cứu về con dấu doanh nghiệp.
Vì vậy, khái niệm doanh nghiệp cần phải được nghiên cứu làm rõ trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Theo Luật Doanh nghiệp LDN là đạo luật chung về doanh nghiệp quy định các vấn đề cơ bản cho tất cả doanh nghiệp, bao gồm các doanh nghiệp hoạt động theo các luật chuyên ngành khác. Khoản 10, Điều 4, LDN 2020 quy định “doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Khoản 21 Điều 4, LDN 2020 quy định “kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.
Từ những quy định nêu trên có thể hiểu rằng doanh nghiệp là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh mà kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Như vậy, doanh nghiệp là tổ chức được thành lập hợp pháp và nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Căn cứ Điều 46, Điều 74, Điều 111, Điều 177, Điều 188 của LDN 2020 thì công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp doanh, Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là doanh nghiệp. Như vậy, các tổ chức hoạt động dưới các hình thức công ty gồm công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp doanh và DNTN đều là doanh nghiệp.
Theo Luật Luật sư Theo Khoản 1, Điều 33 Luật Luật sư quy định “Văn phòng luật sư hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Và Điều 188, LDN 2020 quy định “doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp. Do đó, văn phòng luật sư là doanh nghiệp. Điều 34, Luật Luật sư quy định công ty luật gồm công ty luật TNHH một thành viên, công ty luật TNHH hai thành viên trở lên và công ty luật hợp danh hoạt động 7 theo loại hình công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty hợp danh.
Trong khi đó, Điều 46, Điều 74 và Điều 177 LDN 2020 quy định công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh là doanh nghiệp. Do đó, công ty luật TNHH và công ty luật hợp danh là doanh nghiệp. Như vậy, các tổ chức hành nghề luật sư gồm văn phòng luật sư, công ty luật TNHH, công ty luật hợp danh đều là doanh nghiệp. Theo Luật Công chứng Điều 22, Luật Công chứng quy định văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh.
Mà Điều 177, LDN 2020 quy định công ty hợp danh là doanh nghiệp. Vậy, văn phòng công chứng là doanh nghiệp. Theo Luật Các tổ chức tín dụng Khoản 1, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng quy định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”.
Các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp gồm1: - Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. - Tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong nước bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. - Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. 1 Điều 6, Luật các tổ chức tín dụng 8 - Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.
Như vậy, các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp (trừ quỹ tín dụng nhân dân hoạt động dưới hình thức hợp tác xã). Theo Luật Giám định tư pháp Khoản 2, Điều 14 Luật Giám định tư pháp quy định “Văn phòng giám định tư pháp do 01 giám định viên tư pháp thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng giám định tư pháp do 02 giám định viên tư pháp trở lên thành lập thì được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh”. Như vậy, văn phòng giám định tư pháp hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh nên văn phòng giám định tư pháp là doanh nghiệp.
Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm Điều 59, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 7, Điều 1, Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010 quy định các tổ chức kinh doanh bảo hiểm gồm công ty cổ phần bảo hiểm và công ty TNHH bảo hiểm. Do đó, các công ty bảo hiểm là doanh nghiệp. Theo Luật Chứng khoán Khoản 1 Điều 43 và Khoản 1 Điều 52, Luật Chứng khoán 2019 quy định Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam là doanh nghiệp. Khoản 1 Điều 71 Luật Chứng khoán 2019 quy định công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải đăng ký doanh nghiệp theo quy định của LDN.
Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của LDN. Khoản 1 Điều 114 Luật Chứng khoán 2019 quy định “Công ty đầu tư chứng khoán là quỹ đầu tư chứng khoán được tổ chức theo loại hình công ty cổ phần để đầu tư chứng khoán”. Như vậy, theo Luật Chứng khoán, các tổ chức sau đây là doanh nghiệp: Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán. 9 Theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại Khoản 1, Điều 17, Nghị định 08/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định “Văn phòng Thừa phát lại do 01 Thừa phát lại thành lập được tổ chức theo loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Văn phòng Thừa phát lại do 02 Thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức theo loại hình công ty hợp danh. Như vậy, văn phòng Thừa phát lại là doanh nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả tạm phân chia doanh nghiệp thành hai nhóm: doanh nghiệp đăng ký và hoạt động theo LDN (bao gồm cả tổ chức tín dụng hoạt động theo LDN) và “doanh nghiệp chuyên ngành” gồm doanh nghiệp ngành tư pháp (văn phòng luật sư, công ty luật, văn phòng công chứng, văn phòng giám định tư pháp, văn phòng Thừa phát lại) và doanh nghiệp ngành tài chính (công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, Công ty đầu tư chứng khoán). Khái niệm con dấu Ở nước ta, con dấu xuất hiện rất sớm trong lịch sử hình thành và phát triển của nhà nước.
Con dấu xuất hiện từ khoảng những năm 257 – 147 trước công nguyên. Dấu mốc này được nhận định theo kết quả nghiên cứu của những nhà khảo cổ học về 6 con dấu cổ được tìm thấy ở vùng Thiệu Dương – Thanh Hóa. Nó được xác định là một phương tiện đặc biệt phục vụ cho việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Con dấu gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội, phụ thuộc vào chế độ chính trị của nhà nước.
Vì vậy, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì hình dáng, nội dung, kích thước, biểu tượng, chất liệu của con dấu là không giống nhau. Con dấu ra đời với sứ mệnh khẳng định giá trị pháp lý và tư cách pháp nhân của chủ sở hữu con dấu, đồng thời con dấu được coi là công cụ phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội hữu dụng nhất. Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, con dấu là biểu hiện của quyền lực triều đình, uy quyền của hoàng đế. Con dấu được coi là yếu tố thông tin quan trọng đảm bảo hiệu lực quản lý và tính chân thực của văn bản.
Triều đại Nhà Nguyễn là 10 một thời đại nở rộ với hàng chục con dấu thiết kế trên chất liệu bằng ngọc, vàng. Mỗi loại dấu đều có sự khác biệt về kích thước, trọng lượng cũng như công dụng. Những con dấu đúc từ vàng được gọi là kim bảo tỷ, còn ngọc tỷ được khắc trên ngọc. Dấu của vua được sử dụng để xác định giá trị của các văn bản quan trọng về vấn đề ngoại giao, quốc phòng, an ninh.
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ thực dân phong kiến, trong lễ thoái vị vua Bảo Đại đã giao lại quốc ấn cho Chính phủ Cách mạng. Ngày nay, con dấu ẩn chứa dưới nhiều hình thức và mang các sứ mệnh khác nhau. Con dấu được dùng rất rộng rãi như một công cụ phổ biến và không còn bó hẹp trong những đơn vị quyền lực nhà nước như thời đại trước.2 Trên thế giới, con dấu được hình thành và sử dụng từ khi xã hội có sự phân hóa thành các giai cấp và nhà nước ra đời – là xã hội cộng sản nguyên thủy bị thay thế bởi chế độ chiếm hữu nô lệ. Khi nhà nước ra đời, văn bản, giấy tờ được sử dụng như một công cụ truyền đạt thông tin và mang chức năng quản lý nhà nước.
Nhưng nếu chỉ có văn bản không thì không đủ thể hiện giá trị cũng như tầm quan trọng của thông tin, vì thế con dấu ra đời với chức năng nhận biết văn bản nhà nước. Mặc dù con dấu được sử dụng rộng rãi ở nhiều cơ quan, đơn vị nhưng khái niệm về con dấu lại chưa thật sự được các nhà nghiên cứu quan tâm và cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào về con dấu có sức thuyết phục.