Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VE THỪA KE VÀ NHỮNG TAC ĐỘNG CUA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐÉN PHÁP LUẬT THỪA KÉ 1. Lý luận chung về thừa kế 1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điễm của thừa kế 1. Khái niệm Thừa ké là chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi một quốc gia trên thế giới.
Chế định thừa kế đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người. Ngay từ thời kỳ La Mã cổ đại, chế định thừa kế đã được xây dựng với hai hình thức thừa kế cơ bản là thừa kế theo di chúc (testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan. Ở thời kỳ đầu, hình thức thừa kế chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở thành phô biến hơn. Theo quan điểm của Ph.Angghen, ông cho rằng thừa kế “là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống” [13].
Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản của người chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định. Pháp luật cho phép những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ tài sản của người chết. Tác giả Lê Quang Thanh trong nghiên cứu về “Pháp luật thừa kế” do Nxb Lao động ấn hành năm 2014 đưa ra khái niệm về thừa kế: “Thừa kế là quan hệ dân sự, là quan hệ tài sản của người chết với người còn sống, là sự dịch chuyền tài sản của người chết sang cho những người còn sống khác” [41]. Các tác giả Phùng Trung Tập, Trần Hữu Bién trong “Giáo trình Luật dân sự Việt Nam” do Nxb Công an nhân dân ấn hành năm 2020 đưa ra quan niệm: ““Thừa kế là sự kế quyền tổng hợp của những người sống đối với quyền, nghĩa vụ của người đã khuất.
Việc kế quyền toàn bộ hay một bộ phận quyên, nghĩa vụ do người chết để lại còn phụ thuộc vào các qui định của pháp luật và ý chí của người để lại di sản, người hưởng di sản” [40]. Từ quan điểm của các nhà nghiên cứu, cho thấy: thờa kế là sự dịch chuyển dia vị pháp lý đổi với tài sản của người chết sang cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật. Đây được xem là quyền dân sự của một người có quyền dé lại di sản thừa kế của mình cho những người thân thích hoặc những người mà người để lại di sản thừa kế quan tâm và được pháp luật bảo hộ, không phụ thuộc vào địa vị xã hội của người đó. Ý nghĩa của thừa kế Khi nghiên cứu về “Nguồn gốc của gia đình, chế độ tr hữu và nhà nước ” Ph.Ăngghen trong tác phẩm cùng tên đã phân tích về sự hình thành sở hữu tư nhân và các chế độ sở hữu tư nhân trong lịch sử, kéo theo đó là sự xuất hiện giai cấp và nhà nước.
Theo ông, ở những giai đoạn đầu của xã hội loài người, khi con người còn lệ thuộc vào tự nhiên, khai thác tự nhiên làm nguồn sông chủ yếu thì gia đình mẫu hệ với chế độ quần hôn là hình thái phù hợp. Do chế độ quần hôn nên không thể xác định được người cha, nhưng luôn xác định được người mẹ, nên người con luôn thuộc về người mẹ, người đàn ông không có quyền trong gia đình. Vì vậy quan hệ sở hữu và thừa kế giai đoạn này luôn gắn với chế độ mẫu hệ. Ông cho rằng “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kế về bên mẹ mà theo tập tục thừa kế nguyên thủy trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết.
Tài sản phải để lại trong thị tộc, vì tài sản không có giá trị lớn nên lâu nay người ta vẫn trao tài sản đó cho những người bà con thân thích nhất, nghĩa là trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ” [35]. Tw nhận định trên đã cho thấy, quan hệ thừa kế đã xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người, với ý nghĩa là trao lại tài sản của người chết cho những người bà con thân thích, có cùng huyết tộc với người mẹ trong thị tộc đã nói lên bản chât nhân văn của thừa kê: sự trao truyền tài sản của người chêt cho những người thân thích còn sống. Trải qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm của xã hội loài người, với những biến đổi không ngừng của lịch sử, sự thay đôi của các hình thái kinh tế xã hội, nhưng bản chat và ý nghĩa nhân văn của thừa kế vẫn được bảo tồn, trao truyền và không ngừng phát triển theo hướng nhân văn hơn, sát với thực tiễn cuộc sống hơn, hướng tới tôn trọng quyên tự do tư hữu. Tác giả Tưởng Duy Lượng trong cuốn “Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử”, do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành 2009, đã nói về ý nghĩa quan trong của thừa kế là động lực dé phát triển kinh tế xã hội.
Tác giả cho rang, thừa kế “không chỉ kích thích tính tiết kiệm trong sản xuất và tiêu ding mà còn kích thích lòng say mê lao động sáng tạo, kích thích sự quản lý năng động của mỗi người; tạo ra sự thi đua thầm lặng của mỗi cá nhân nhằm nâng khối tài sản của mình lên bằng sức lực và khả năng sáng tạo mà họ có, chỉ khi đó, quyền sở hữu và quyền thừa kế mới trở thành một trong những động lực quan trọng dé phát triển kinh tế xã hội” [30]. Tiếp thu và biến đổi qua các thời kỳ lịch sử, quyền thừa kế ở Việt Nam được xem là một trong những quyền cơ ban của công dân được nhà nước bảo hộ. Điều 32 Hiến pháp 2013 khang định: “Mọi người có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải dé dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu tư nhân và quyên thừa kế được pháp luật bảo hộ” [24].
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự 2015 đã đành hắn một phần - Phần IV để quy định về Thừa kế. Trong đó quyền thừa kế được qui định tại Điều 609 BLDS 2015: “Cá nhân có quyền lập di chúc dé định đoạt tài sản của mình; dé lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc” [11]. Việc coi trọng quyền thừa kế là một quyền cơ bản của công dân đã được Hiến định và pháp định cũng là bởi ý nghĩa nhân văn của thừa kế.
Thừa kế được xem như sợi dây tình cảm gan két cac thanh vién trong gia dinh, gop phan xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, tôn trọng quyền sở hữu của cá nhân. Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền để lại di sản thừa kế của cá nhân cho chủ thé khác thông qua di chúc hoặc theo pháp luật. Có rất nhiều trường hợp trong thực tiễn mặc dù người con trong cuộc sống vì những điều kiện hoàn cảnh hoặc lí do khác tác động đã không làm tròn nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng với dang sinh thành, nhưng trước khi chết di, cha mẹ vẫn lập di chúc định đoạt khối tài sản đó cho con mình bởi tình thương yêu vô bờ bến giữa cha mẹ với con cái. Qua thừa kế mà giáo dục được người hưởng di sản nhận ra những điều ý nghĩa hơn trong cuộc sống hàng ngày.
Đặc điểm của thừa kế Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước, có rất ít công trình đề cập đến đặc điểm của thừa kế. Tuy nhiên với bản chất của thừa kế là sự dịch chuyền địa vị pháp lý đối với tài sản của người chết sang cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật, nên thừa kế mang đặc điểm cơ bản là sự kế quyền của những người sống đối với quyền và nghĩa vụ của người đã chết. Thừa kế là sự pha trộn giữa quyền nhân thân và quyền tài sản. Ở đây quyền nhân thân gắn liền với yếu tô hôn nhân - huyết thống - nuôi dưỡng.
Khi một người mat đi không để lại di chúc thì khối di sản của họ sẽ được chia theo pháp luật. Pháp luật qui định thừa kế theo pháp luật phải gắn liền với các yếu tố hôn nhân - huyết thống - nuôi dưỡng đó. Chang hạn, theo Luật Sở hữu trí tuệ 2019 ghi nhận tác giả có quyền dé lại thừa kế cho người thừa kế ngoài quyền tài sản thì có cả thừa kế với quyền nhân thân của tác giả, đó là quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm (Điều 40 - Luật SHTT 2019). Bên cạnh đó, Điều 649 BLDS 2015 khi qui định về thừa kế theo pháp luật đã chỉ ra là sự thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định.
Hàng thừa kế ở đây gồm hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba (Điều 651 BLDS 2015) và qui định những người thừa kế ở cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Thông qua thừa kế để xác lập nên quyền sở hữu đối với tài sản của một chủ thé, và cũng thông qua thừa kế một chủ thé có quyền yêu cầu một chủ thé khác phải thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định liên quan đến di sản của người chết dé lại. Khi bàn về đặc điểm của thừa kế, tác giả Nguyễn Văn Huy trong nghiên cứu vê “Thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam” do Nxb Tư pháp ấn hành 2017 đã đưa ra quan điểm về đặc điểm của thừa kế, trước hết là sự dịch chuyên về tài sản, sự dịch chuyên về tài sản này có thé theo di chúc hoặc theo pháp luật. Nếu theo pháp luật thì “Việc dịch chuyên tài sản theo hàng thừa kế do pháp luật quy định mà không theo ý chí của người để lại di sản.
Việc dịch chuyên tài sản phải theo trình tự căn cứ vào hàng thừa kế. Người thừa kế ở hàng sau chỉ được hưởng nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước”. Hai là căn cứ để xác định người thừa kế. Nếu theo di chúc thì những người được chỉ định trong di chúc sẽ là những người thừa kế, họ có thé là người thân thích hoặc là người mà người để lại di sản thừa kế quan tâm.
Nếu theo pháp luật thì người thừa kế phải thuộc diện thừa kế theo pháp luật, có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng với người dé lại di sản.