CHƯƠNG 1.1 Giới thiệu Vận tải đường sắt là một trong những phương thức giao thông quan trọng từ đầu thế kỷ 20 đến nay. Từ năm 1933, các công ty tàu lửa ở châu Âu và Hoa Kỳ đã sử dụng thiết kế khí động học vào tàu lửa cho các dịch vụ cao tốc với tốc độ trung bình 130 km/h và tốc độ tối đa hơn 160 km/h. Tại châu Âu, đường sắt cao tốc bắt đầu được khởi động từ Hội chợ Vận tải Thế giới ở Munich tháng 6 năm 1965, khi tàu DB Class 103 thực hiện tổng cộng 347 chuyến đi trình diễn ở tốc độ 200 km/h giữa Munich và Augsburg. Dịch vụ phổ biến đầu tiên ở tốc độ này là dịch vụ TEE "Le Capitole" đi từ Paris tới Toulouse sử dụng các đầu máy SNCF Class BB 9200 được chuyển đổi đặc biệt.
Thời đó người ta đã sử dụng cả tàu khí động học lẫn tàu điện nhiều toa trong các dịch vụ cao tốc. Sự tiến bộ trong công nghệ tàu hỏa - làm cho tàu chạy ngày càng nhanh hơn - là minh chứng cho sự phát triển tích cực, đồng thời tạo ra hệ thống đường sắt cao tốc (High Speed Rail - HSR) ngày càng hấp dẫn hơn. Hệ thống đường sắt đầu tiên được John Smeapon sáng lập năm 1756. Đến đầu năm 1978, các đoàn tàu điện được sản xuất tại Pháp đạt vận tốc là 260 km/h (72,2 m/s).
Vào tháng 10 năm 1981, một tàu cao tốc khác được đặt tên là "TGV" cũng được chế tạo tại Pháp, đã lập kỷ lục với vận tốc 380 km/h (105,6 m/s). Cùng với sự phát triển kỹ thuật, tàu cao tốc đang ngày càng trở nên phổ biến hơn. Các tàu tiên phong đầu tiên trên thế giới được phát triển ở Italia và Nhật Bản thể hiện ở Hình 1.2, các thông tin được trích lược từ website [1]. Tổng quan 2 Hình 1.1 Tàu cao tốc đầu tiên ETR200 Hình 1.2 Tàu cao tốc đầu tiên của Italia năm 1939 Shinkansen của Nhật Bản năm 1964 Nhật Bản là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực tàu cao tốc khi từ năm 1964 đã cho ra mắt tàu cao tốc đầu tiên với tên Shinkansen.
Nhật nổi tiếng với hệ thống tàu tốc hành hiện đại và cao cấp nhất thế giới, cực kỳ an toàn, chống động đất và khắc khe về giờ tàu chạy. Một loại tàu cao tốc thế hệ mới có khả năng đạt vận tốc 311mph (khoảng 500 km/h) đang được thử nghiệm tại Nhật Bản (Hình 1. Đây là loại tàu cao tốc của tương lai, thuộc dòng L0, sử dụng công nghệ nâng từ trường (MagLev) mới nhất, dự kiến đến năm 2027 sẽ đưa vào sử dụng. Một phiên bản thử nghiệm gồm 5 toa tàu, với đầu tàu có hình dạng khí động học độc đáo, đang đỗ trên một đường ray thử nghiệm tại quận Yamanashi, ở phía Tây Tokyo.
Những toa tàu này được kéo đi bởi một xe đặc biệt trong lần thử nghiệm đầu tiên. Một cuộc thử nghiệm lớn hơn sẽ được tiến hành vào tháng 9 năm 2013. Tàu siêu tốc mới này được thiết kế bởi Central Japan Railway Co. (JR Tokai), khi hoàn chỉnh sẽ có 16 toa, chở tối đa 1.000 hành khách.
Nhật Bản dự kiến phát triển loại tàu này thay thế cho các thế hệ tàu cao tốc cũ và sẽ phải mở rộng khổ các tuyến đường sắt. Thông tin được trích lược từ website [2]. Tổng quan 3 Hình 1.3 Tàu siêu tốc thế hệ mới được thiết kế bởi Central Japan Railway Trung Quốc cũng đang chứng tỏ là đối thủ cạnh tranh đáng gờm với tàu cao tốc MagLev ở Thượng Hải đạt tốc độ tối đa 431 km/h, song chỉ có thể di chuyển với tốc độ trung bình là 245 km/h do hạn chế về đường ray. Tuy nhiên họ cũng sản xuất hàng loạt các tàu cao tốc tên là "CRH-3" (Hình 1.4) có thể đạt vận tốc trung bình 350 km/h (97,2 m/s), và đang được sử dụng rộng rãi.
Đồng thời, lượng người thường xuyên đi bằng tàu hỏa ngày càng nhiều và dự báo vẫn còn tăng. Đến năm 2020, sẽ chỉ mất khoảng 90 phút để đi lại giữa Kuala Lumpur và Singapore bằng hệ thống cao tốc mới. Đường cao tốc này cũng sẽ thúc đẩy hoạt động kinh tế, du lịch và có thể là một thành phần quan trọng của tuyến đường sắt Singapore-Kunming đã được đề cập nhiều năm nay. Tuyến đường cao tốc 90 phút này sẽ cắt giảm thời gian chờ đợi không cần thiết và liên kết với hệ thống tàu đến Ipoh.
Một dự án đường sắt cao tốc từ Ipoh đến Padang Besar trên biên giới với Thái Lan cũng có thể xuất hiện. Vào năm 2022, Thái Lan muốn mở rộng các tuyến đường sắt hiện đại ở các thành phố khác như Rayong, Chiang Mai, Nong Khai và Hat Yai. Lào và Việt Nam đã tuyên bố rằng họ sẽ xây dựng một tuyến đường tàu cao tốc dài 220 km với tổng giá trị đầu tư 5 tỷ USD, hợp tác với một công ty của Tổng quan 4 Malaysia. Ngân hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc đang tài trợ cho một tuyến đường cao tốc với tổng giá trị đầu tư 7 tỷ USD từ Lào tới miền nam Trung Quốc (Hình 1.4 Mô hình tàu cao tốc nhanh Hình 1.5 Mô hình tàu cao tốc di nhất của Trung Quốc chuyển giữa Trung Quốc và Lào 1.2 Những kỷ lục chạy thử của tàu cao tốc 1963 - Nhật Bản - Shinkansen - 256 km/h (Quốc gia đầu tiên phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 1965 - Tây Đức - Các đầu máy Class 103 - 200 km/h (Quốc gia thứ hai phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 1967 - Pháp - TGV 001 - 318 km/h (Quốc gia thứ ba phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 1972 - Nhật Bản - Shinkansen - 286 km/h.1974 - Tây Đức - EET-01 – 230 km/h 1974 - Pháp - Aérotrain - 430.2 km/h (tàu cao tốc một ray) 1975 - Tây Đức - Comet - 401.3 km/h (dẫn động tên lửa hơi nước) 1978 - Nhật Bản - HSST-01 - 307.8 km/h 1988 - Tây Đức - Thực nghiệm liên thành phố - 406 km/h 1988 - Italia - ETR 500-X - 319 km/h (Quốc gia thứ tư phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 1988 - Tây Đức - TR-06 - 412.6 km/h 1989 - Tây Đức - TR-07 - 436 km/h 1990 - Pháp - TGV - 515.3 km/h 1992 - Nhật Bản - Shinkansen - 350 km/h 1993 - Nhật Bản - Shinkansen - 425 km/h 1993 - Đức - TR-07 - 450 km/h.1994 - Nhật Bản - MLU002N - 431 km/h 1996 - Nhật Bản - Shinkansen - 446 km/h 1997 - Nhật Bản - MLX01 - 550 km/h 1999 - Nhật Bản - MLX01 - 552 km/h 2002 - Tây Ban Nha - AVE Class 330 - 362 km/h (Quốc gia thứ năm phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 2002 - Trung Quốc - China Star - 321 km/h (Quốc gia thứ sáu phát triển công nghệ đường sắt cao tốc) 2003 - Trung Quốc - Siemens Transrapid 08 – 501 km/h 2003 - Nhật Bản - MLX01 - 581 km/h (hiện giữ kỷ lục thế giới) 2004 - Hàn Quốc - HSR-350x - 352.
2007 - Đài Loan - Tàu 700T series - 350 km/h 2008 - Trung Quốc - CRH3 - 394.3 Những thuận lợi khi sử dụng hệ thống đường sắt cao tốc Thời tiết : đi lại bằng đường sắt cũng ít phụ thuộc hơn vào thời tiết so với đường không. Nếu hệ thống đường sắt được thiết kế và điều hành tốt, các điều kiện Tổng quan 6 thời tiết cực đoan như tuyết lớn, nhiều sương mù và bão không ảnh hưởng tới các chuyến đi; trong khi đó những chuyến bay thường bị huỷ bỏ hay trì hoãn trong các điều kiện đó. Tuy nhiên tuyết và cây đổ do gió thường làm chậm trễ các đoàn tàu. Tiện nghi : tính tiện nghi so với việc đi lại bằng đường không thường được cho là một ưu thế của đường sắt cao tốc.
Ví dụ, các đoàn tàu cao tốc, không phải là đối tượng của việc bảo quản bắt buộc, có thể chở theo một số hành khách đứng. Những chiếc máy bay không cho phép hành khách đứng, vì thế những hành khách quá không được phép lên máy bay. Các hành khách của tàu hỏa có thể có lựa chọn giữa việc đứng hay đợi chuyến tàu tiếp. Số lượng lớn các vùng mục tiêu : từ quan điểm của nhà điều hành, một con tàu duy nhất có thể dừng ở nhiều ga, thường có nhiều điểm dừng hơn nhiều so với máy bay, và mỗi lần dừng mất ít thời gian hơn nhiều so với việc hạ cánh.
Một chuyến tàu thường có thể cho phép nhiều khả năng chuyến đi, tăng tiềm năng thị trường. Sự gia tăng tiềm năng thị trường này cho phép nhà điều hành đặt lịch nhiều chuyến xuất phát thường xuyên hơn máy bay, và vì thế tạo ra một lý do khác nữa cho sự ưu tiên lựa chọn. An toàn : từ quan điểm yêu cầu về các hệ thống kiểm soát giao thông và cơ sở hạ tầng, tàu cao tốc có ưu thế đơn giản hơn nhiều trong điều khiển bởi tuyến đường dễ dự đoán trước, thậm chí khi đầy tải hành khách; vấn đề này trở nên rõ ràng hơn khi vận tải hàng không đạt tới giới hạn an toàn tại các sân bay bận rộn ở London, New York, và các trung tâm lớn khác. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các hệ thống đường sắt cao tốc loại bỏ khả năng xung đột giao thông với ô tô (tăng chi phí, đơn giản, và an toàn), trong khi các hệ thống đường sắt tốc độ thấp khác mà một tàu cao tốc cần để tiếp cận tới đường cao tốc có thể có các giao cắt đồng mức.4 Những sự cố xảy ra khi sử dụng hệ thống đường sắt cao tốc Hiện nay, có rất nhiều tai nạn của hệ thống tàu cao tốc đã xảy ra trên toàn thế giới.
Thảm họa tàu Eschede xảy ra vào ngày 3 tháng 6 năm 1998 tại Đức là vụ tai nạn tàu cao tốc chết người nhiều nhất trên toàn cầu. Thiệt hại bao gồm 101 người chết và ước tính 88 người bị thương. Vụ tai nạn xảy ra bởi một vết nứt trong bánh xe đã làm cho tàu trật khỏi đường ray tại vị trí chuyển đổi (Hình 1. Vào ngày 23 Tổng quan 7 tháng 7 năm 2011, hai đoàn tàu cao tốc ở Trung Quốc trật đường ray va với nhau và bốn toa tàu rơi từ trên đường tàu chạy xuống đất.
Vụ tai nạn này có hơn 40 người thiệt mạng, ít nhất 192 người bị thương, 12 trong số đó là chấn thương nghiêm trọng (Hình 1.