Chương 1: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến hiện tượng định dưới giá khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán. 3 Chương 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiện tượng định dưới giá khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp hạn chế hiện tượng định dưới giá khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.
Hồ Chí Minh. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆN TƢỢNG ĐỊNH DƢỚI GIÁ KHI PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán 1. Doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Doanh nghiệp cổ phần niêm yết (Listed Company) là doanh nghiệp cổ phần đại chúng thỏa mãn các điều kiện niêm yết và được niêm yết trên TTCK nhằm đảm bảo việc mua bán cổ phiếu được thực hiện theo đúng những quy định của SGDCK.
Hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng 1. Khái niệm hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng IPO (Initial Public Offering) nghĩa là hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Giống như tên gọi, IPO xảy ra khi một doanh nghiệp lần đầu tiên cung cấp các cổ phiếu ra công chúng. Hoạt động IPO có thể được xem như việc doanh nghiệp đang muốn huy động thêm vốn để gia tăng vốn cổ phần của mình hoặc thực hiện vay nợ.
Hầu hết các doanh nghiệp có thể bắt đầu đi vào hoạt động bằng việc huy động vốn chủ sở hữu từ một lượng nhỏ các nhà đầu tư, nên nếu các nhà đầu tư này muốn bán cổ phần cũng rất khó khăn, tính thanh khoản gần như không có. Nếu một doanh nghiệp hoạt động thành công và cần thêm vốn chủ sở hữu, tại một thời điểm nào đó doanh nghiệp sẽ thấy việc cổ phần hóa là hợp lý với việc bán cổ phần cho một số lượng lớn các nhà đầu tư khác nhau. Khi cổ phiếu được giao dịch công khai, điều này sẽ làm tăng tính thanh khoản và cho phép doanh nghiệp gia tăng vốn với chi phí hợp lý hơn. Các cổ đông hiện tại có thể bán cổ phần trong giao dịch thị trường mở.
Tuy nhiên, cũng với những lợi ích này thì cũng xuất hiện thêm chi phí. Cụ thể, có những chi phí hiện hành cố định tương ứng với việc công khai thông tin cơ bản đến các nhà đầu tư và công chúng. Thêm vào đó, cũng có những chi phí trước đó gắn với quá trình IPO được phân loại thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp bao gồm phí về luật pháp, kiểm toán, và các chi phí bảo hiểm.
Chi phí gián tiếp là thời gian quản lý và nỗ lực cho việc tiến hành đợt chào bán và sự pha loãng do việc bán cổ phần tại mức giá đưa ra trung bình thường thấp hơn giá 5 thị trường hiện hành. Những chi phí trực tiếp và gián tiếp này ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Điều kiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Tại mỗi quốc gia, mỗi thị trường đều có những quy định riêng về việc cho phép một doanh nghiệp có thể tiến hành phát hành cổ phiếu ra công chúng. Tuy nhiên, để phát hành cổ phiếu ra công chúng, thông thường tổ chức phát hành phải đảm bảo những điều kiện cơ bản sau: Quy mô vốn: Tổ chức phát hành phải đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ tối thiểu ban đầu và sau khi phát hành phải đạt được một tỷ lệ phần trăm nhất định về vốn cổ phần do công chúng nắm giữ và số lượng công chúng tham gia.
Tính liên tục của hoạt động sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong vòng một thời gian nhất định. Hiệu quả sản xuất kinh doanh: doanh nghiệp phải làm ăn có lãi với mức lợi nhuận không thấp hơn mức quy định và trong một số năm liên tục nhất định. Tính khả thi của dự án: doanh nghiệp phải có dự án khả thi trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được. Tại Việt Nam, theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 của Quốc hội, Điều 12, mục 1 quy định điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng như sau: Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán.
Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán. Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Quy trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Một doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng không những phải liên hệ với SGDCK mà doanh nghiệp muốn niêm yết cổ phiếu, mà còn phải có sự hỗ trợ của các bên thứ ba. Chẳng hạn tại Sở Giao dịch Chứng khoán điện tử Hoa Kỳ (NASDAQ), các chủ thể tham gia bao gồm: 6 Doanh nghiệp phát hành: Đây là doanh nghiệp sẽ tiến hành đăng ký và niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán New York hoặc NASDAQ.
Những cổ đông bán cổ phần: Đây là các cổ đông sẽ bán cổ phần khi đợt IPO được diễn ra. Nhà bảo lãnh: thông thường sẽ là một ngân hàng đầu tư hoặc một nhóm ngân hàng. Những ngân hàng này sẽ tiến hành mua các cổ phiếu từ các nhà phát hành và đề nghị hoặc bán những chứng khoán này ra công chúng. Các ngân hàng thường được thuê để thực hiện nghiệp vụ này là Goldman Sachs hoặc Morgan Stanley.
Các cố vấn luật pháp: Đây có thể là một doanh nghiệp Mỹ hoặc một nhóm các cố vấn pháp lý địa phương. Mục đích chính là để giải quyết các vấn đề thủ tục pháp lý. Các doanh nghiệp kiểm toán độc lập: Thông thường sẽ là một trong bốn doanh nghiệp kiểm toán lớn nhất thế giới: PriceWaterhouseCoopers (PWC), Deloitte Touche Tohmatsu (Deloitte), Ernst and Young (E&Y) và KPMG. Ngoài ra, trong một đợt IPO, có thể có các tổ chức khác như các ngân hàng thụ hưởng, các nhà môi giới bảo hiểm, nhà định giá độc lập và các công ty truyền thông.
Một quy trình phát hành IPO có thể bao gồm ba giai đoạn: Giai đoạn trước khi đăng ký phát hành: Không có bất kỳ một lời đề nghị mua hoặc bán nào xuất hiện trong giai đoạn này. Giai đoạn này sẽ bao gồm luôn cả thời gian cho việc xúc tiến bán các cổ phiếu. Giai đoạn chờ đợi sau khi đăng ký hay trước khi phát hành: Đây là giai đoạn chào bán song chưa phải là chào bán chính thức. Các Bản cáo bạch được ban hành theo yêu cầu của UBCKNN.
Thời gian cáo bạch bao gồm cả việc soạn thảo hoặc quảng bá cổ phiếu được chào bán. Giai đoạn phát hành cổ phiếu: Việc bán cổ phần trong thời gian cáo bạch là không hợp lệ, trừ khi bản đăng ký đã có hiệu lực. Tác động của hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Đối với TTCK 7 Xét về tổng thể, đầu tư chứng khoán chỉ là một kênh đầu tư. Vì vậy, các đợt IPO thành công sẽ có tác dụng thúc đẩy các nhà đầu tư đến với TTCK qua đó làm tăng quy mô và khối lượng giao dịch và thu hút thêm luồng tiền lớn vào TTCK.
Không chỉ các nhà đầu tư trong nước tham gia vào IPO, cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng tiến hành tham gia hoạt động này, giúp thu hút các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài vào TTCK trong nước. Mặt khác, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào các doanh nghiệp IPO có thể mang đến phương thức quản lý ở nước ngoài, giúp thay đổi phương thức làm việc của các doanh nghiệp trong nước. Việc các doanh nghiệp IPO sẽ giúp thị trường định giá lại các doanh nghiệp chưa tiến hành niêm yết hay các cổ phiếu trên TTCK phi tập trung (OTC) của các doanh nghiệp cùng ngành. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, cũng không loại trừ khả năng một nguồn vốn tương đối lớn sẽ bị tạm thời hút ra khỏi thị trường để đưa vào đấu giá.
Một cổ phiếu sau khi IPO thành công vẫn có thể sụt giảm giá trị do các yếu tố khác tác động. Điều này khiến cho TTCK có thể mất đi một nguồn vốn lớn, gây bất ổn cho thị trường. Ngoài ra, việc một cổ phiếu IPO không thành công có thể tác động lớn đến tâm lý các nhà đầu tư, gây sự mất tin tưởng của các nhà đầu tư vào thị trường có các cổ phiếu IPO không thành công. Điều này cũng làm gia tăng sự bất ổn của TTCK mỗi khi có bất kỳ một thông tin nào đó xuất hiện.
Đối với doanh nghiệp phát hành Doanh nghiệp muốn huy động thêm các nguồn vốn để gia tăng các quỹ và gia tăng tính thanh khoản do lượng tiền mặt mà các nhà đầu tư mua cổ phần của doanh nghiệp mang lại. Lượng tiền này có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, như tái đầu tư vào cơ sở hạ tầng hay giúp mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình IPO mang lại cho doanh nghiệp cơ hội giao tiếp, đưa những thông tin chính xác tới công chúng và là điểm khởi đầu cho mối quan hệ của doanh nghiệp với công chúng. IPO thể hiện sự khẳng định của doanh nghiệp trong việc xây dựng giá trị ổn định dài hạn cho cổ đông.
8 IPO thành công sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của doanh nghiệp, nhờ vậy doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn khi huy động vốn qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu những lần sau. Với sự phát triển mạnh mẽ của TTCK, các doanh nghiệp có thể huy động được nhanh và nhiều vốn thông qua việc tiến hành IPO trên TTCK. Cổ phiếu của doanh nghiệp cũng có thể đạt được tính thanh khoản cao và các giá trị gia tăng về giá sau khi IPO. Phát hành cổ phiếu ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng, thu hút được nguồn vốn lớn cho doanh nghiệp, thuận lợi hơn trong việc vay vốn của ngân hàng.