CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CÁC LUẬN DIEM, YÊU SÁCH PHI LÝ CUA TRUNG QUOC TREN BIEN ĐÔNG 1. Tống quan về vi tri và vai trò của Biến Đông 1. Xét về mặt vị trí địa lý Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, là một trong những biển lớn nhất trên thế giới với 90% chu vi được bao bọc bởi đất liền. Có 9 nước tiếp giáp với Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Phi-lip-pin, In-d6-né-xia, Bru-nây, Ma-lai-xia, Xin-ga-po, Thái Lan, Cam-pu-chia và một vùng lãnh thé là Dai Loan.
Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sông của khoảng 300 triệu dan các nước này. Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn của cả Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Hoa Kỳ [1]. Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch, đồng thời đây cũng là khu vực đang chịu sức ép nhiều về bảo vệ môi trường sinh thái biển.260km bờ biển, hon 3.000 hon đảo năm trên thềm lục địa và hai quần dao Hoàng Sa, Trường Sa [38]; căn cứ theo công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982, Việt Nam có vùng biển bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý (chưa tính vùng biển của hai quan đảo Hoang Sa, Trường Sa) tinh từ đường cơ sở dùng dé tính chiều rộng lãnh hải phù hợp với Công ước Luật biên 1982. [18] Do vậy Biển Đông là vấn đề rất nhạy cảm và liên quan mật thiết đến tình hình an ninh, chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Xét về mặt vị trí địa - kinh tế a) Tiềm năng về giao thông vận tải biển Tiềm năng về giao thông vận tải biển là khái niệm đề cập đến khả năng phát triển và khai thác các tuyến đường biển cho mục đích vận chuyền hàng hóa và hành khách. Tiềm năng này được đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như: Vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, chính sách và quy định, kinh tê và thương mai. Dé có cái nhìn chi tiét hơn vê tiêm năng về giao thông vận tải biên của Biên Đông, bài việt sẽ đê cập tới nhiêu mặt khách quan như sau: Một là, tiềm năng về giao thông vận tải biển của Biển Đông đối với thế giới. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á.
Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thé gidi.[8] Hai là, tiềm năng về giao thông vận tải biển của Biển Đông đối với Việt Nam. Cục Hàng hải Việt Nam cho biết, hiện nay cả nước có 272 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng đạt 92,2 km với tổng công suất trên 550 triệu tân/năm. Hệ thống cảng biển gắn liền với các trung tâm, các vùng kinh tế lớn của cả nước [56]. b) Tiềm năng về khai thác và chế biến khoáng sản biển Một là, tiềm năng về khai thác và chế biến khoáng sản biển của Biển Đông đối với thế giới.
Biển Đông được coi là một trong 5 bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới [5]. Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam xác định nhiều bé trầm tích có triển vọng dầu khí, trong đó các bê trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi [19]. Hai là, tiềm năng về khai thác và chế biến khoáng sản biển của Biển Đông đối với Việt Nam. Theo điều tra cơ bản, vùng biển Việt Nam chứa khoảng 35 loại hình khoáng sản với trữ lượng khai thác khác nhau từ nhỏ đến lớn, thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và khoáng san lỏng [41].
Một số mỏ cát vật liệu xây dựng dưới đáy biển ở Quảng Ninh và Hải Phòng với trữ lượng trên 100 tỷ tấn và một dãy cát thạch anh ngầm dưới đáy biển Quảng Ninh (gần 9 tỷ tấn). [13] c) Tiềm năng về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản Một là, tiềm năng về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản của Biển Đông đối với thé giới. Theo thống kê, trữ lượng thủy sản ở Biển Đông khoảng 3,9 triệu tan. Hiện chúng ta đã khai thác tới 3,6 triệu tan/nam.
[13] Tổng sản lượng khai thác hải sản ở Biển Đông ước tính vào khoảng 10-12 triệu tấn mỗi năm, chiếm khoảng 10% tổng sản lượng thủy sản toàn câu. Trong đó, các loài cá có sản lượng khai thác lớn bao gôm cá ngu, cá thu, cá cơm, và mực. Hai là, tiềm năng về khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản của Biển Đông đối với Việt Nam. Theo các số liệu thống kê, hiện có tới 11.000 loài sinh vật thủy sinh và 1.300 loài sinh vật trên đảo đã được biết đến trong các vùng biển - đảo Việt Nam [41].
d) Tiềm năng về khai thác du lich biển Biển Đông có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch biển, nhờ vào cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và đa dạng sinh học phong phú. Với tiềm năng phát triển du lịch biển ngày càng được khai thác, Biển Đông không chỉ mang lại lợi ích kinh tế lớn mà còn góp phần vào bảo tồn và phát triển bền vững môi trường biển. Với đường bờ biển dài trên 3260 km trải đài từ bắc xuống nam, Việt Nam đứng thứ 27/157 quốc gia ven biên, các quốc dao và các lãnh thô trên thế giới. [37] f) Tiềm năng về khai thác năng lượng Một là, Biển Đông mang lại nguồn tài nguyên hóa thạch khổng lồ, cung cấp năng lượng đồi dào cho Việt Nam điền hình như dầu mỏ, khí đốt, đất hiếm, quặng khoáng sản các loại,.
Tiềm năng năng lượng từ dau khí là một tài nguyên quan trọng, có trữ lượng lớn và hiện đang được khai thác hiệu quả tại vùng biển Việt Nam. [52] Hai là, Biển Đông mang lại nguồn tài nguyên tái tạo vô tận, là nguồn lợi khong 16. Theo Bách khoa thư mở (EWO), năng lượng biển, còn được gọi là năng lượng đại dương hoặc năng lượng thủy động học và biên, là loại năng lượng được tạo ra bởi sóng biên, thủy triều, dong chảy của biển, độ mặn và sự chênh lệch nhiệt độ đại dương [44]. Xét về mặt địa — chính tri Biển Đông là một trong những vùng biên quan trọng và chiến lược nhất thế giới.
Nó không chỉ có giá tri kinh tế to lớn mà còn có tầm quan trọng địa - chính trị lớn, ảnh hưởng dén an ninh và ôn định của khu vực Đông Nam A và toàn câu. a) VỊ trí địa lý chiến lược của Biển Đông Một là, đối với giao thông hàng hải, Biển Đông nằm ở ngã tư của các tuyến đường hàng hải quan trọng, kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Hơn một nửa số tàu thương mại trên thế giới di qua khu vực này. Hai là, đối với các quốc gia ven biên, Biển Đông giáp ranh với nhiều quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia và Trung Quốc.
Điều này làm cho Biển Đông trở thành khu vực có nhiều tranh chấp lãnh thé và quyền tài phán hàng hải. b) Vai trò về an ninh và quân sự tại Biển Đông Một là, về sự quân sự hóa và hiện diện quân sự hiện nay tại Biển Đông, Trung Quốc đã xây dựng và quân sự hóa các thực thể nhân tạo trên Biển Đông, bao gồm cả việc xây dựng sân bay, căn cứ quân sự, và trạm radar. Hai là, về các liên minh và đối tác, Biển Đông là khu vực mà các liên minh quân sự và đối tác quốc tế đóng vai trò quan trọng. Biển Đông là khu vực mà các liên minh quân sự và đối tác quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình và 6n định.
Các quốc gia có lợi ích chiến lược tại khu vực này thường tham gia vào các liên minh và thiết lập quan hệ đối tác dé bảo vệ lợi ích của mình và giảm thiêu nguy cơ xung đột. Hoa Kỳ, với các hiệp ước phòng thủ và đối tác chiến lược trong khu vực. d) Tiềm năng phát triển quan hệ quốc tế và ngoại giao dựa vào Biển Đông Một là, tình hình tranh chấp và bất đồng về nhiều khía cạnh liên quan tới chủ quyền đang trở nên ngày càng căng thăng, tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông liên quan đến nhiều quốc gia và thực thể, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Đài Loan. Các yêu sách chủ quyền này thường chồng chéo và phức tạp.
e) Về khía cạnh phát triển kinh tế và thương mại tại Biển Đông Một là, Biển Đông đóng vai trò làm tuyến đường thương mại quan trọng, đây là một trong những tuyến đường thương mại quan trọng nhất thế giới, nơi hàng nghìn tàu thương mại từ khắp nơi trên thế giới vận chuyển hàng hóa, dầu mỏ và khí đốt. Hai là, An ninh hàng hải và tác động đến kinh tế toàn cầu: An ninh hàng hải ở Biển Đông trực tiếp ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Bắt kỳ sự xung đột, căng thăng hay gián đoạn nào có thể dẫn đến gián đoạn trong chuỗi cung ứng quan trọng, gây ra ảnh hưởng lớn đến thương mại và giá cả hàng hóa, đặc biệt là năng lượng. Ba là, vai trò của Biển Đông trong kết nối kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.
Xét về mặt địa - pháp lý Cụ thể, Biển Đông là một khu vực có nhiều tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia, và vị trí địa-pháp lý sẽ xác định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan dựa trên vị trí địa lý của từng đối tượng, như các đảo, bãi cạn hay rạn san hô. Các quy định này thường được xác lập dựa trên các công ước quốc tế như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982), và các thỏa thuận, hiệp định giữa các quốc gia có liên quan. a) Là biểu tượng nổi bật cho việc áp dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) và các biện pháp ngoại giao khác. Cụ thé trong những năm qua, đã có nhiều vụ kiện liên quan đến chủ quyền biển dao tại Biển Đông.
Những vụ kiện này chủ yếu xoay quanh tranh chap chủ quyền và quyền tài phán giữa các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam A.